Chưa khép lại hành trình nhiếp ảnh 30 năm

Từ những bức ảnh đen trắng những năm 1990 đến những chân dung màu chụp lại hôm nay, Soloman mở ra cuộc đối thoại giữa quá khứ và hiện tại, giữa con người và thời gian để thấy Việt Nam tuy đổi thay, nhưng những giá trị nhân văn cốt lõi vẫn vẹn nguyên.

Một số tác phẩm của nhiếp ảnh gia Andy Soloman được trưng bày tại triển lãm Tiếp nối: Việt Nam.
Một số tác phẩm của nhiếp ảnh gia Andy Soloman được trưng bày tại triển lãm Tiếp nối: Việt Nam.

Hơn ba thập kỷ gắn bó với Việt Nam, vừa qua nhiếp ảnh gia Andy Soloman trở lại với triển lãm “Tiếp nối: Việt Nam”, dự án truy tìm dấu vết ký ức qua những cuộc hội ngộ sau 30 năm. Là một phóng viên ảnh tự do đến từ Vương quốc Anh, Andy Soloman có chuyến công tác ngắn ngày, nhưng bất ngờ bước vào hành trình kéo dài bảy năm và rồi thành mối duyên hơn ba thập niên cùng Việt Nam. Đất nước lúc đó vẫn còn mang những vết sẹo chiến tranh, cơ sở hạ tầng mỏng manh phải gồng mình dưới một nền kinh tế bị đè nặng bởi lệnh cấm vận thương mại.

Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn, thứ ông chứng kiến là một sự kiên cường đáng nể. Người dân Việt Nam, bằng sự khéo léo và bền bỉ, đã âm thầm tạo dựng một tương lai mới.

13-1.jpg

Đất nước đang bắt đầu quá trình chuyển mình.

Từ những chuyến rong ruổi xuyên Việt, từ đồng bằng đến vùng cao, từ biên giới đến những làng nghề, Soloman đã ghi lại một Việt Nam trong bước ngoặt vận động mạnh mẽ. Ba mươi năm sau, ông quay lại để tìm những nhân vật cũ, mang theo những bức ảnh thời tuổi trẻ của họ và chụp thêm những chân dung mới. Hai dòng thời gian ấy, khi đặt cạnh nhau, không chỉ kể câu chuyện thay đổi của một đất nước, mà còn là những lát cắt xúc động về ký ức, di sản…

Trong cuộc trò chuyện với Thời Nay, Andy Soloman chia sẻ những điều ông đã nhìn thấy, cảm nhận và đau đáu trong hành trình nhiếp ảnh hơn ba thập kỷ tại Việt Nam.

Phóng viên (PV): Được biết dự án lần này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng với cá nhân ông. Ông có thể chia sẻ thêm về cảm xúc và động lực thực hiện "Tiếp nối: Việt Nam"?

Nhiếp ảnh gia Andy Soloman: Dự án lần này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn với niềm đam mê mà tôi theo đuổi suốt hơn ba thập niên. Tôi luôn cảm thấy mình đã có một cơ hội hiếm có khi được đặt chân đến Việt Nam năm 1992. Giờ đây, tôi có cơ hội quay trở lại và tìm gặp những con người năm xưa. Đây không chỉ là hành trình tìm lại ký ức cá nhân, mà còn là câu chuyện về sự kết nối giữa con người, về tính nhân văn và những đổi thay của thời gian. Dự án này chạm đến những giá trị khiến tôi luôn day dứt và trân trọng sự bền bỉ, vẻ đẹp và hành trình đổi thay của mỗi con người.

Sau hơn 30 năm, Việt Nam đã đổi thay rất nhiều, phát triển vượt bậc trên nhiều phương diện. Trong khoảng thời gian ấy, rất nhiều điều mới xuất hiện và cũng không ít thứ cũ kỹ biến mất. Vì thế, tôi hy vọng những bức ảnh của mình có thể trở thành một dạng tư liệu lịch sử, để thấy Việt Nam đã từng như thế nào và hành trình đổi thay đã diễn ra ra sao. Nhân vật trong các bức ảnh của tôi đều là những con người bình dị. Họ không phải những người nổi tiếng hay đặc biệt. Tôi muốn họ, những người gần như không bao giờ có tiếng nói trong lịch sử có được một không gian để hiện diện, để được nhìn thấy.

13-3.jpg
Nhân vật của Andy gặp lại chính mình 30 năm trước.

PV: Trong hành trình trở lại để tìm kiếm và gặp lại những mảnh đời năm xưa, khoảnh khắc nào khiến ông xúc động và đáng nhớ nhất?

Nhiếp ảnh gia Andy Soloman: Điều khiến tôi xúc động nhất là khi gặp lại những con người trong ảnh cũ. Với nhiều người, những bức ảnh mà tôi mang theo là hình ảnh duy nhất họ còn có của tuổi trẻ hoặc của người thân đã khuất. Tôi nhớ một cô gái mà tôi gặp hồi cô mới 10 tuổi ở một ngôi làng nghèo gần Sa Thầy trên dãy núi Plei Krông, trước đây thuộc tỉnh Kon Tum. 30 năm sau, cô không còn nhớ tôi nữa. Nhưng khi nhìn tấm ảnh chụp hồi nhỏ, cô đã lặng im rất lâu. Rồi cô bật cười hạnh phúc vì cả những ký ức tuổi thơ tràn về, chiếc kẹp tóc mầu sắc, chiếc váy họa tiết và đôi dép… những thứ mà ngày bé cô từng năn nỉ mẹ mua cho bằng được. Giờ cô đã là mẹ của bốn đứa trẻ, và chỉ khi trưởng thành cô mới hiểu hết những gánh nặng mà mẹ mình từng mang.

Điều khiến tôi bất ngờ là rất nhiều người không nhận ra mình trong ảnh cũ. Không phải vì thời gian thay đổi vẻ bề ngoài, mà bởi họ chưa bao giờ có một bức ảnh chụp chính mình. Như một người phụ nữ ở Kon Tum không có một bức ảnh nào của các con khi chúng còn nhỏ. Vì vậy, tấm ảnh tôi mang đến sau ba thập niên trở thành vật duy nhất giúp cô nhìn lại tuổi thơ của các con mình, một điều thật sự đặc biệt.

Tôi còn nhớ hai bức ảnh chụp ông Tưởng và ông Tăng ở Bình Đà (Hà Nội) thời họ còn làm pháo. Khi nghề pháo không còn, cuộc sống của họ thay đổi hẳn. Khi họ nhìn lại ảnh cũ, ký ức nghề, ký ức một thời vàng son lập tức sống dậy. Điều ấy khiến tôi nhận ra một lớp ý nghĩa khác, ký ức không chỉ thuộc về cá nhân, mà còn là di sản văn hóa phi vật thể. Khi một điều gì đó mất đi, nó mất mãi mãi, không trở lại nữa. Vì thế, việc lưu giữ ký ức, lễ hội, truyền thống… những điều làm nên căn tính cộng đồng là vô cùng quan trọng.

PV: Nguyên tắc nghề nghiệp của ông khi tiếp cận với các nhân vật của mình là gì?

Nhiếp ảnh gia Andy Soloman: Điều đầu tiên là tôn trọng. Khi tôi bước vào cuộc đời ai đó, tôi phải hiểu rằng họ không mời tôi đến. Tôi phải biết ơn và tôn trọng sự hiện diện của họ. Tôi có thể ngồi với bất kỳ ai, một người rất nghèo hay một nguyên thủ quốc gia, vì chúng ta đều là con người. Máy ảnh là chìa khóa để tôi mở cửa vào thế giới của họ. Nguyên tắc thứ hai của tôi là không phán xét. Đừng đánh giá ai qua vẻ ngoài hay hành vi. Hãy để họ là chính họ. Tôi hy vọng ảnh của tôi sẽ ghi lại phẩm giá và sự tôn trọng mà họ xứng đáng có. Tôi luôn chụp gần, nhìn vào mắt họ, tạo sự kết nối. Nếu họ không thoải mái, tôi rời đi. May mắn là ở Việt Nam tôi được đón nhận rất ấm áp, thân thiện và cởi mở, đó là lý do tôi luôn yêu công việc này ở nơi đây.

PV: Hình như ông vẫn dành nhiều thời gian cho các dự án văn hóa và di sản tại Việt Nam. Đâu là mong muốn lớn nhất của ông trong việc bảo tồn các giá trị này?

Nhiếp ảnh gia Andy Soloman: Tôi dành nhiều thời gian khám phá lịch sử, văn hóa độc đáo của Việt Nam và lưu lại những điều ấy bằng hình ảnh. Tôi hy vọng có thể góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của vô số giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ biến mất.

Vừa qua, tôi có đến thăm một bản người Dao ở Phú Thọ. Họ vẫn có cuộc sống truyền thống với nhà gỗ, làm nương rẫy…, có một kho tri thức đặc biệt về cây cỏ, y học, văn hóa. Tuy vậy, khi giới trẻ được kết nối với thế giới bên ngoài bằng mạng xã hội, điều đó vừa tốt nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bởi nếu không khéo, những giá trị truyền thống sẽ dần phai mờ. Một số bức ảnh gần đây tôi chụp người thầy cúng, cũng là thủ lĩnh tinh thần của cả bản, cùng bản thảo ngôn ngữ dân tộc Dao. Thật tuyệt là cộng đồng ở đây vẫn đang nỗ lực tìm cách bảo tồn chữ viết truyền thống. Điều quan trọng không chỉ là dạy trẻ nói tiếng mẹ đẻ, mà còn phải giữ được hệ thống chữ viết, bởi đó là cánh cửa lưu giữ toàn bộ tri thức cộng đồng. Nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam đã mất đi chữ viết và kho tàng tri thức chứa trong đó cũng mất theo.

PV: Theo ông, đâu là hướng đi để các cộng đồng vùng sâu, vùng xa có thể phát triển mà vẫn bảo tồn được bản sắc? Vai trò của nhiếp ảnh trong quá trình này là gì?

Nhiếp ảnh gia Andy Soloman: Tôi tin rằng những cộng đồng ấy rất giàu có, không phải về tiền bạc, mà về tri thức, văn hóa, di sản và cách nhìn thế giới. Nhưng để họ tiếp tục duy trì được những giá trị đó, cần có lý do và nguồn lực. Du lịch có thể đóng vai trò nhất định, nhưng phải là du lịch bền vững. Du lịch không phải là mặc trang phục đẹp và biểu diễn vài phút. Du lịch phải tạo ra cơ hội để truyền đạt, giáo dục, để du khách hiểu về kho tàng tri thức đáng kinh ngạc của các cộng đồng này.

Về phần mình, tôi đang tiếp tục mở rộng dự án tìm lại nhân vật cũ, nghiên cứu nguồn gốc giấy dó, cộng tác với các nhiếp ảnh gia, nhà làm phim, nhà nghiên cứu. Mỗi tuần tôi lại lên núi, đến các bản làng, gặp những người bạn cũ và mới. Ở tuổi 63, tôi nghĩ mình vẫn còn đủ thời gian để đóng góp điều gì đó cho Việt Nam.

PV: Cảm ơn ông về những chia sẻ xúc động và sâu sắc!

Nhiếp ảnh không thể thay đổi thế giới, nhưng có thể nhắc chúng ta nhớ mình là ai, từ đâu đến, và vì sao những giá trị ấy quan trọng. Lịch sử không chỉ nằm trong sách vở, mà sống trong đời sống của những con người bình thường. Và khi chúng ta lưu giữ được ký ức ấy, tương lai sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Có thể bạn quan tâm

Lắng nghe những giằng co sâu kín

Lắng nghe những giằng co sâu kín

Tiểu thuyết “Gió chiều Hoàng Đạo” (NXB Văn học 10/2026), Lê Hồng Nguyên đã chạm đến những nỗi đau sâu kín của thân phận, vẻ đẹp bền bỉ của tình yêu và khát vọng đoàn tụ. Thành công tác phẩm kết tinh ở những điểm chính sau.

Xe Thồ Mộ - mực tàu 1960. Họa sĩ Bé Ký (1938-2021)

Sưu tập tranh để nâng niu ký ức

Chọn sự bền bỉ, tình yêu quê hương và niềm trân trọng văn hóa dân tộc làm sức mạnh, nhà sưu tập Vũ Đình Hải, một Việt kiều sinh sống tại Hoa Kỳ biến nỗi nhớ đất mẹ thành việc sưu tầm, gìn giữ và lan tỏa các tác phẩm hội họa từng làm nên diện mạo nghệ thuật miền nam trước năm 1975.

Ảnh: K.MINH

Tôn vinh danh nhân và đạo học

Sự kiện tiêu biểu vào ngày cuối cùng của tháng mười (thứ 7, 31/10) vừa qua là Nhà lưu niệm GS, viện sĩ Trần Huy Liệu (1901-1969) đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia tại thôn Vân Cát, xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình. Hội thảo “Trần Huy Liệu - nhà cách mạng, nhà văn hóa, người đặt nền móng cho sử học Việt Nam hiện đại” cũng nhằm kỷ niệm 60 năm Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam do GS Trần Huy Liệu là vị Chủ tịch đầu tiên. Nhiều đại biểu đồng tình với việc phát triển các “bảo tàng danh nhân”.

Giữ vị trà B’Lao

Giữ vị trà B’Lao

B’Lao - tên cũ của khu vực Bảo Lộc - vốn là đất trồng trà. Ở cao độ 800m so mực nước biển, B’Lao mát mẻ, sương đêm và sớm dày, mưa nắng đúng nhịp, độ chênh nhiệt giữa ban đêm và ban ngày lớn. Đó là những điều kiện lý tưởng, phù hợp tốc độ sinh trưởng chậm của cây trà, hình thành nên vị hương trà bền, vị trà hậu thanh mát.

Các nghệ sĩ và nghệ nhân mong kiến tạo một không gian văn hóa ở phía tây Thủ đô.

Sáng tạo cho vùng đệm văn hóa Việt - Mường

Ngay tại nơi giao hòa giữa nét trầm mặc của đồng bằng và cảnh quan bán sơn địa, trong không gian Đoài To The West (thôn Yên Bình 2, xã Yên Xuân, Hà Nội), triển lãm nghệ thuật sắp đặt SE tại đây đã tạo dấu ấn gợi ý việc mở không gian sáng tạo ra ngoài nội đô đông đúc.

Tọa đàm “Hiền nhân mở cõi” là chương trình thứ hai của dự án “Nếp nhà xưa - Mạch sống người Việt”.

Yêu ngày xưa hơn từ việc xây nhà, đi chợ...

Dự án “Nếp nhà xưa - Mạch sống người Việt” đang tổ chức các buổi trò chuyện cùng chuyên gia và có hẳn “bài tập kết nối” giúp mọi người dễ dàng tiếp cận và ứng dụng kiến thức lịch sử, văn hóa trong thực tế.

Nhà có ba “Chúa”

Những năm trước, trong một chuyến ra đảo Phú Quốc, tôi tình cờ nghe được giọng nói xứ Thanh đặc trưng giữa sóng nước trùng khơi. Sự đồng điệu nơi đất khách quê người đã “kết duyên” cho chúng tôi biết nhau. Anh là Trịnh Văn Khiêm, một người con của vùng biển Sầm Sơn (Thanh Hóa), hiện định cư tại Khu 3, đặc khu Phú Quốc (An Giang).

SpaceSpeakers ra mắt MV mới

SpaceSpeakers ra mắt MV mới

Tối 31/10, SpaceSpeakers phát hành MV “Không xi nhê”, mở màn cho chuỗi dự án thuộc album KOSMIK năm 2026 nhân kỷ niệm 15 năm thành lập. Từ chủ đề “Homecoming” (Về nhà), trong MV, các nghệ sĩ SpaceSpeakers đưa khán giả trở lại những địa điểm quen thuộc tại Hà Nội, nơi cất giữ ký ức thanh xuân từ thuở mới vào nghề của cả các thành viên SpaceSpeakers.

Hoạt động sáng tác và trưng bày tác phẩm tại bản Sìn Suối Hồ (Lai Châu) của nhóm VAS.

Say mê với nghệ thuật, trắc ẩn trước cộng đồng

Triển lãm “Vietnam Art Space - Kết nối Nghệ thuật 2026” diễn ra đến hết đến 1/11/2026 tại Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, số 97 Phó Đức Chính, phường Bến Thành. Đây là không gian đối thoại trực tiếp giữa các họa sĩ từ nhiều vùng miền khác nhau, trong đó có các sĩ thành danh đến những gương mặt trẻ đang định hình ngôn ngữ nghệ thuật.

Múa cung đình Huế.

Thước đo cao nhất là sức sống di sản và chất lượng sống của người giữ di sản

Ở nhiều địa phương, người dân ngày càng chủ động hơn trong việc phục hồi không gian thực hành, tổ chức truyền dạy, xây dựng câu lạc bộ, đưa di sản vào trường học và giới thiệu di sản trên các nền tảng số. Nhiều người trẻ không còn coi di sản là điều gì đó xa xôi, cũ kỹ, mà bắt đầu nhìn thấy trong di sản bản sắc, niềm tự hào, khả năng sáng tạo và cả những cơ hội nghề nghiệp mới... Đó là nhận định của TS Phạm Cao Quý (Cục Di sản văn hóa) trong cuộc trò chuyện với Thời Nay, hướng tới Ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11 và Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11.

Mã gen văn chương và niềm tha thiết làm nghề

Mã gen văn chương và niềm tha thiết làm nghề

Đọc “Đánh thức mã gen văn học từ góc nhìn thể loại”, tiểu luận phê bình của Hà Vinh Tâm, NXB Hội nhà văn, 2026, nếu cần phải chỉ ra từ chìa khóa (key words) cho cuốn sách này, đó chắc chắn phải là cụm từ “mã gen văn học” và “thể loại”. Toàn bộ 27 bài viết được chia làm hai phần trong cuốn sách tập trung khám phá, giải mã, cắt nghĩa và trao đổi về một số vấn đề, tác giả, tác phẩm và hoạt động giảng dạy văn học xoay quanh hai trục ý tưởng đó.

Họa sĩ Thành Chương khi vẽ bộ tranh “Hà Nội có cầu Long Biên”. Ảnh: NVCC

Vẽ cầu Long Biên vừa quen vừa lạ

Ở tuổi gần 80, mới đây họa sĩ Thành Chương được trao giải ở hạng mục Tác phẩm tại Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 19 với bộ tranh sơn mài “Hà Nội có cầu Long Biên”. Cây cầu trong tranh ông vừa là ký ức tuổi thơ, vừa là hình ảnh hiện hữu mỗi ngày, khi từ nhà bước ra, ông đã có thể nhìn thấy cây cầu thân thuộc.

Lấy ý kiến về đặt tên đường, công trình công cộng

Dự thảo Nghị định “Ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường phố, công trình công cộng” vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng tải trên cổng thông tin https://bvhttdl.gov.vn. Dự thảo có nhiều nét mới và khi được ban hành, sẽ thay thế Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành “Quy chế đặt tên, đổi tên đường phố, công trình công cộng”.

Tránh lệ thuộc AI trong học tập

Tránh lệ thuộc AI trong học tập

Hội thảo khoa học quốc tế “Ngôn ngữ học và Việt Nam học trong kỷ nguyên mới: Thách thức và cơ hội” vừa diễn ra, do Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức.

Lan tỏa giao lưu

Lan tỏa giao lưu

Chiều thứ năm (22/10) vừa qua, Tuần lễ Sách - Công nghệ và Ngày hội Văn hóa đọc Đà Nẵng vừa được khai mạc tại Thư viện thành phố Đà Nẵng với chủ đề “Lan tỏa tri thức - Kết nối công nghệ”. Không gian điểm nhấn của ngày hội mang tên “Thư viện số - Công nghệ đọc thông minh”, giới thiệu nhiều sách điện tử, sách nói, sách tương tác thực tế ảo và thực tế tăng cường (VR/AR). Ngoài ra, còn nhiều hoạt động trải nghiệm công nghệ và giao lưu thơ-nhạc, văn nghệ, và đố vui có thưởng được tổ chức.

Người ở lại trong đêm

Tôi biết đến câu chuyện ấy trong một đêm ở Bệnh viện E, khi bản thân cũng đang cần đến sự chăm sóc của các y, bác sĩ. Giữa những lo lắng của riêng mình, tôi chú ý đến một người đàn ông trung niên. Bác không phải người nhà bệnh nhân, cũng chẳng quen biết gì với cháu sinh viên vừa gặp tai nạn giao thông được mình đưa vào cấp cứu.

“Tử chiến trên không” nhận giải Phim hay nhất tại Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng 2026.

“Lịch sử tạo bản sắc cho nền điện ảnh của chúng ta”

Năm 2025, đạo diễn Trần Quang Hàm (Hàm Trần) ghi dấu bộ phim ăn khách “Tử chiến trên không”, kể về một sự kiện lịch sử có thật làm chấn động ngành hàng không Việt Nam. Chia sẻ với Thời Nay, trong vai trò là đạo diễn, biên kịch, dựng phim, anh nói về những “bí quyết” để làm nên một tác phẩm điện ảnh lịch sử hấp dẫn.

Mượn con đường đô thị dẫn vào con đường người trẻ

Mượn con đường đô thị dẫn vào con đường người trẻ

Từ cuộc gặp chẳng ai mong muốn nơi ngã tư đường, “Người khách mới trên chuyến xe 461” (NXB Kim Đồng) mở ra câu chuyện đẹp về tình thân, tình người giữa nhịp sống đô thị hối hả. Chọn cách kể ký ức đan xen hiện tại, nhà báo-nhà văn Nguyễn Khắc Cường khéo léo xâu chuỗi các tình tiết để từng câu chuyện tưởng chừng giản đơn ấy dẫn người đọc đến nhiều tầng cảm xúc khác nhau.

Tinh thần jazz sinh viên tươi trẻ.

Cảm nhận một Việt Nam rất mới qua jazz

Một đêm nhạc jazz được lên ý tưởng, dàn dựng và chuẩn bị từ thiết kế sân khấu, truyền thông đến hậu cần và biểu diễn… đều do sinh viên. Điều đặc biệt thú vị, chương trình đã chọn hướng giới thiệu jazz trong sự hòa quyện với mạch nguồn truyền thống âm nhạc Việt Nam và truyền thống tri ân người đi trước, những thế hệ nghệ sĩ-giảng viên đặt nền móng cho sự ra đời, trưởng thành của Khoa Nhạc Jazz, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam.