Số liệu khảo sát do Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) thực hiện mới đây cho thấy, hơn 20% cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam chưa có nhân sự chuyên trách về an ninh mạng và hơn 35% đơn vị không có đủ nhân sự theo nhu cầu. Đây chính là “lỗ hổng” lớn trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu nhân lực an ninh mạng tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hiện nay không chỉ là “thiếu” mà là “khát” trầm trọng, nhất là đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh bài toán nhân lực, vấn đề tài chính dành cho an ninh mạng cũng bộc lộ bất cập. Dù nhận thức của các tổ chức, doanh nghiệp về tầm quan trọng của an ninh mạng đã có những chuyển biến tích cực và mức độ đầu tư đang dần được cải thiện, song ngân sách dành cho lĩnh vực này nhìn chung vẫn còn “khiêm tốn”. Trên thực tế, chi tiêu cho an ninh mạng chưa tương xứng với quy mô hoạt động, mức độ tinh vi của các cuộc tấn công, cũng như thiệt hại ngày càng nghiêm trọng mà rủi ro an ninh mạng có thể gây ra trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
An ninh mạng là một lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn sâu, khả năng thực chiến cao và sự cập nhật liên tục trước những công nghệ, cũng như phương thức tấn công ngày càng tinh vi. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang cho rằng: Khoảng cách lớn nhất giữa yêu cầu thực tiễn và năng lực đào tạo hiện nay nằm ở tính thực chiến, khả năng làm chủ công nghệ mới và năng lực xử lý sự cố trong môi trường thực tế. Trong khi đó, chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, hạ tầng phòng thí nghiệm, hệ thống mô phỏng và môi trường diễn tập an ninh mạng còn thiếu, chưa theo kịp thực tiễn, khiến người học ít có cơ hội va chạm với các kịch bản tấn công phức tạp. Hệ quả là nhiều sinh viên dù nắm kiến thức nền tảng, nhưng khi bước vào môi trường làm việc thực tế thì phải mất thêm thời gian dài để tái đào tạo, thích nghi.
Theo các chuyên gia, trong khoảng 9-10 năm tới, thậm chí xa hơn, sự phát triển mạnh mẽ của AI (trí tuệ nhân tạo), cùng với việc mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp, tổ chức trong tối ưu vận hành và đổi mới sáng tạo, nhưng cũng tạo điều kiện cho tội phạm mạng khai thác với quy mô và mức độ tinh vi ngày càng cao. Các hình thức tấn công như: Mã độc được tạo sinh từ AI, lừa đảo phishing cá nhân hóa, giả mạo danh tính, deepfake hay tự động hóa tấn công sẽ gia tăng đáng kể, kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp hơn. Trong bối cảnh đó, nhu cầu nhân lực an ninh mạng sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, nhất là về chất lượng, bởi an toàn thông tin luôn là yêu cầu thiết yếu trong bối cảnh các hệ thống số ngày càng mở rộng và phức tạp.
Trường đại học Công nghệ thông tin là một trong 8 cơ sở trọng điểm đào tạo về an toàn, an ninh thông tin. Nhà trường xác định, đây là một trong những ngành đào tạo trọng tâm với 3 hoạt động chính là đào tạo tiên tiến, nghiên cứu chuyên sâu và hoạt động chuyển giao công nghệ. Trong lĩnh vực an toàn, an ninh thông tin, nhà trường đào tạo chương trình bậc đại học và sau đại học.
Trong 5 năm gần đây, sinh viên của trường đã tham dự và có 35 lần nằm trong top 3 các cuộc thi chuyên sâu về an toàn thông tin được tổ chức trong nước và quốc tế; trong đó, có 19 lần đoạt giải nhất. Ngoài ra, nhằm trang bị cho sinh viên các kiến thức chuyên sâu, hình thành lực lượng có năng lực nghiên cứu và phát triển các sản phẩm chủ lực, sinh viên ngành an toàn thông tin của trường được khuyến khích tham gia các nhóm nghiên cứu khoa học cùng giảng viên. 5 năm gần đây, sinh viên đã tham gia công bố được gần 200 công trình khoa học trong lĩnh vực an toàn thông tin, trong đó có hơn 30 công trình trong các tạp chí ISI.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Triết, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), nhấn mạnh, một trong những thách thức lớn của vấn đề bảo đảm an ninh mạng tại Việt Nam đó là nguồn nhân lực. Do đó, chúng ta cần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực cao, các chuyên gia và những người có khả năng vận hành toàn thời gian để giám sát các hệ thống... để từ đó có giải pháp phát hiện kịp thời, ứng cứu phù hợp đối với các mối đe dọa trong lĩnh vực này.