Chính thức áp dụng cơ chế đặc thù đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Quốc hội chính thức thông qua việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án, đáp ứng nhu cầu vận tải công cộng.
Toàn cảnh phiên họp của Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)
Toàn cảnh phiên họp của Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)

Tiếp tục Kỳ họp bất thường lần thứ 9, sáng 19/2, với 100% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trước khi tiến hành biểu quyết, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Tùng trình bày Báo cáo tiếp thu, chỉnh lý và giải trình về dự thảo nghị quyết.

Tiếp đó, Quốc hội biểu quyết bằng hình thức biểu quyết điện tử. Kết quả, 459/459 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 100%), như vậy, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả biểu quyết. (Ảnh: DUY LINH)

Kết quả biểu quyết. (Ảnh: DUY LINH)

Trình bày báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Tùng nêu rõ, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với sự cần thiết ban hành nghị quyết này để giải quyết “điểm nghẽn” về thể chế nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt đô thị, đáp ứng nhu cầu vận tải công cộng, góp phần phát triển đô thị xanh, bền vững.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất với nhiều ý kiến đại biểu, nhấn mạnh việc ban hành nghị quyết thí điểm sẽ tạo cơ sở pháp lý cần thiết nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các thành phố trong thời gian qua, để thực hiện thành công mục tiêu hoàn chỉnh mạng lưới đường sắt đô thị thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2035 theo Nghị quyết số 49-KL/TW ngày 28/2/2023 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, giúp tạo lập hạ tầng giao thông đồng bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Nghị quyết gồm 11 Điều và 1 Phụ lục, quy định thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại 2 thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Về huy động và bố trí nguồn vốn đầu tư, nghị quyết quy định, trong quá trình chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư các dự án thuộc danh mục dự án dự kiến tại phụ lục kèm theo nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ căn cứ khả năng cân đối, bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm vốn ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương, tối đa không vượt 215.350 tỷ đồng cho thành phố Hà Nội và tối đa không vượt 209.500 tỷ đồng cho Thành phố Hồ Chí Minh trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và 2031-2035 làm cơ sở quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư các dự án.

Đại biểu tham gia biểu quyết. (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu tham gia biểu quyết. (Ảnh: DUY LINH)

Việc phân bổ vốn quy định tại điểm này được sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách trung ương hằng năm (nếu có) và các nguồn vốn hợp pháp khác; trường hợp sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách trung ương hằng năm thì không phải thực hiện thứ tự ưu tiên theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước…

Hội đồng nhân dân thành phố có trách nhiệm cân đối, bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm vốn ngân sách địa phương làm cơ sở quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư các dự án thuộc danh mục dự án dự kiến.

Ủy ban nhân dân thành phố được quyết định bố trí vốn từ ngân sách thành phố trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch đầu tư công hằng năm trước khi có quyết định đầu tư để triển khai thực hiện một số hoạt động phục vụ cho dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị theo mô hình TOD.

Nghị quyết quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đầu tư dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị theo mô hình TOD; quy định về phát triển đô thị theo mô hình TOD; phát triển công nghiệp đường sắt, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực…

Có thể bạn quan tâm

Nông dân An Giang thu hoạch lúa. (Ảnh: THANH DŨNG)

An Giang thu hoạch dứt điểm 219 nghìn ha lúa hè thu

Vụ hè thu 2026, tỉnh An Giang xuống giống hơn 500 nghìn ha, đạt 99,5%. Đến nay, nông dân thu hoạch hơn 280 nghìn ha, đạt 56,39% so với diện tích xuống giống, năng suất bình quân ước đạt 6,14 tấn/ha, tăng 3,15% so kế hoạch. Hiện diện tích lúa còn lại khoảng 217 nghìn ha và dự kiến thu hoạch dứt điểm trong tháng 9 này.

Để đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trở thành lựa chọn thường xuyên của người tiêu dùng, cần chuyển từ xúc tiến đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị. (Ảnh: AN NGUYÊN)

Bài 2: Từ đặc sản vùng cao đến thị trường bền vững

Có sản phẩm tốt chưa chắc có thị trường, để đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trở thành lựa chọn thường xuyên của người tiêu dùng, cần chuyển từ xúc tiến đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị trong đó văn hóa trở thành lợi thế cạnh tranh và cộng đồng là chủ thể hưởng lợi.

Các Đại sứ, đại diện các cơ quan ngoại giao tại Mozambique tham quan và thưởng thức cà-phê tại gian hàng của Đại sứ quán Việt Nam tại Mozambique. (Ảnh: Đại sứ quán Việt Nam tại Mozambique cung cấp)

Đưa cà-phê Việt Nam tiếp cận với các đối tác tiềm năng tại Mozambique

Việc Đại sứ quán Việt Nam tại Mozambique giới thiệu các sản phẩm cà-phê đặc sản, chế biến sâu và Halal tại Hội chợ thương mại quốc tế Maputo 2026 góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận các nhà nhập khẩu, nhà phân phối và đối tác tiềm năng tại Mozambique và khu vực; thúc đẩy kết nối kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Mozambique.

Đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang sở hữu một kho tàng đặc biệt về nghề truyền thống, sản vật và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Bài 1: Đánh thức nguồn lực văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang sở hữu một kho tàng đặc biệt về nghề truyền thống, sản vật và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Để những giá trị ấy thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần bước chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy “bảo tồn" sang “bảo tồn để phát huy và phát triển".