Chia sẻ kinh nghiệm can thiệp chemsex, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV

Trong 2 ngày 6 và 7/11, tại Thái Lan, Viện Nghiên cứu và Sáng kiến về HIV (IHRI) của Thái Lan với sự hỗ trợ của Văn phòng khu vực của Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) tại châu Á-Thái Bình Dương tổ chức hội nghị lần thứ 6 của khu vực về chủ đề can thiệp cho người sử dụng chất kích thích khi quan hệ tình dục (chemsex).
Đoàn Việt Nam chia sẻ về bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam.
Đoàn Việt Nam chia sẻ về bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam.

Tham dự hội nghị có đại biểu đại diện các nhóm cộng đồng chịu ảnh hưởng chính bởi HIV, cán bộ và chuyên gia trong lĩnh vực y tế, các cơ quan chính phủ, tổ chức cộng đồng, các nhà nghiên cứu và vận động chính sách độc lập và các tổ chức đối tác quốc tế hỗ trợ và tài trợ cho lĩnh vực can thiệp này.

Chemsex làm tăng nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM)

Tính đến hết năm 2023, thế giới có khoảng 39,9 triệu người đang sống chung với HIV. Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tính đến hết năm 2023 có khoảng 6,7 triệu người đang sống chung với HIV. Trong năm 2023, khu vực có 300.000 người nhiễm HIV mới được phát hiện và khoảng 150.000 người nhiễm HIV đã tử vong.

Xu hướng sử dụng các chất kích thích (hàng đá, kẹo, thuốc lắc, ke…) cho mục đích quan hệ tình dục (Chemsex/highfun) ngày càng phổ biến trong cộng đồng nam có quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và nữ chuyển giới (TGW) trong toàn khu vực. Việc sử dụng Methamphetamine có liên quan đến tăng tần suất quan hệ tình dục không an toàn ở nhóm MSM, do đó làm tăng khả năng lây nhiễm STI (bệnh lây truyền qua đường tình dục), HBV và HIV. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới công tác dự phòng và điều trị HIV/AIDS.

Hội nghị thu hút hơn 300 đại biểu đại diện các nhóm cộng đồng chịu ảnh hưởng chính bởi HIV, cán bộ và chuyên gia trong lĩnh vực y tế, các cơ quan chính phủ, tổ chức cộng đồng, các nhà nghiên cứu và vận động chính sách độc lập và các tổ chức đối tác quốc tế hỗ trợ và tài trợ cho lĩnh vực can thiệp này.

Hội nghị thu hút hơn 300 đại biểu đại diện các nhóm cộng đồng chịu ảnh hưởng chính bởi HIV, cán bộ và chuyên gia trong lĩnh vực y tế, các cơ quan chính phủ, tổ chức cộng đồng, các nhà nghiên cứu và vận động chính sách độc lập và các tổ chức đối tác quốc tế hỗ trợ và tài trợ cho lĩnh vực can thiệp này.

Tại Việt Nam, trong 9 tháng đầu năm 2024 ghi nhận 11.421 trường hợp phát hiện mới HIV dương tính, 1.263 trường hợp tử vong. Trong số người mới phát hiện nhiễm HIV đầu năm đến nay có 82,9% là nam giới, độ tuổi chủ yếu là từ 15-29 (40%) và 30-39 (27,3%), đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là nam quan hệ tình dục đồng giới (42,2%).

Theo nghiên cứu năm 2019 của Trung tâm chuyển giao công nghệ điều trị nghiện chất và HIV, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh và Trung tâm Life tại TP Hồ Chí Minh trên nhóm MSM và chuyển giới nữ (TGW) tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy, 50% MSM/TGW dùng các chất kích thích dạng amphetamine, 70% dùng popper.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng, Giảng viên cao cấp Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh cho biết, chemsex làm tăng nguy cơ bị ảnh hưởng về sức khỏe như không kiểm soát được hành vi khi bị ảnh hưởng bởi ma túy và tham gia các hành vi nguy cơ (dù sau đó có hối tiếc). Một số nhỏ thực hành tình dục nguy cơ cao hơn do bị ảnh hưởng bởi thuốc...

Phó Giáo sư Dũng cảnh báo, sử dụng chất khi quan hệ tình dục ở nhóm MSM làm gia tăng nguy cơ nhiễm HIV do người dùng thường không tham gia các biện pháp dự phòng lây truyền HIV như không sử dụng bao cao su, không tuân thủ sử dụng ARV hay PrEP v.v... trong và sau khi tham gia vào chemsex. Bên cạnh đó, nhiều người có các rối loạn tâm thần đến mức cần phải điều trị hoặc ảnh hưởng vĩnh viễn... hoặc thậm chí tử vong do sử dụng quá liều.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng, Giảng viên cao cấp Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh chia sẻ thông tin tại hội nghị.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng, Giảng viên cao cấp Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh chia sẻ thông tin tại hội nghị.

Trước tình hình trên, việc trang bị các kiến thức và kỹ năng tư vấn từ cơ bản tới nâng cao về chemsex cho nhân viên y tế và nhân viên hỗ trợ cộng đồng (CBOs) là vô cùng cấp thiết.

Giới thiệu bộ tài liệu hướng dẫn can thiệp cho người thực hành chemsex

Tại hội nghị, đại diện các nước đã thảo luận các vấn đề liên quan đến thực hành và can thiệp cho người sử dụng chất kích thích khi quan hệ tình dục (thường được gọi là chemsex) trong một môi trường đa dạng, an toàn, vì mục tiêu sức khỏe và y tế công cộng.

Đồng thời, tại chương trình, UNAIDS và UNODC giới thiệu hai bộ tài liệu hướng dẫn cung cấp can thiệp cho người thực hành chemsex. Tài liệu này gồm một Hướng dẫn can thiệp dành cho người cung cấp dịch vụ tại cơ sở y tế áp dụng cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và một bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho nhân viên tiếp cận cộng đồng của Việt Nam.

Theo đại diện của UNAIDS, bộ tài liệu sẽ hướng dẫn cách tiếp cận với nhóm MSM để hỗ trợ giảm các tác hại liên quan đến chemsex và giải quyết các khía cạnh tâm lý xã hội.

Tại hội nghị, các đại diện của Việt Nam gồm bà Nguyễn Thị Minh Tâm, Trưởng phòng Dự phòng lây nhiễm HIV, Cục Phòng, chống HIV/AIDS; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng, Giảng viên cao cấp Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Bích Huệ, cán bộ của tổ chức UNAIDS Việt Nam đã chia sẻ những thông tin và kinh nghiệm về phòng, chống HIV tại Việt Nam, đặc biệt là bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam

Bà Nguyễn Thị Minh Tâm, Trưởng phòng Dự phòng lây nhiễm HIV, Cục Phòng, chống HIV/AIDS cho biết, từ 3 năm trước khi có sự gia tăng ca nhiễm HIV trong nhóm MSM đặc biệt liên quan đến hành vi tình dục không an toàn do sử dụng chất, Với sự hỗ trợ của UNAIDS và UNODC, Cục Phòng, chống HIV/AIDS cùng với Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu xây dựng bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam.

Các đại diện Việt Nam chia sẻ về bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam.

Các đại diện Việt Nam chia sẻ về bộ tài liệu đào tạo can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam.

Bộ tài liệu được đưa vào sử dụng trong thực tiễn trong 4-6 tháng và đã thu thập được dữ liệu của 174 khách hàng. Tài liệu này sẽ kết thúc nghiên cứu trong tháng 11 này. Từ các kết quả thu thập được với khoảng 400 mẫu nghiên cứu, bộ tài liệu sẽ được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn để giúp cho nhóm cộng đồng tiếp cận tốt nhất với nhóm MSM, giảm thiểu tác hại cho người thực hành chemsex.

“Hiện nghiên cứu được tiến hành thử nghiệm tại TP Hồ Chí Minh, khi bộ công cụ được hoàn chỉnh, chúng tôi sẽ đưa vào sử dụng trên toàn quốc”, bà Minh Tâm nói.

Là người tham gia xây dựng bộ tài liệu, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng cho hay, thông qua hội nghị lần này, ông hiểu thêm được nhiều nước trên thế giới có nhiều quan điểm đa dạng về sử dụng chất trong hoạt động tình dục của nhóm MSM. Muốn can thiệp cho nhóm người thực hành chemsex, phải hiểu cách tiếp cận, tư vấn sử dụng chất an toàn. "Qua đó, chúng tôi củng cố thêm một số cách tiếp cận phù hợp với nhóm thực hành chemsex tại Việt Nam", ông Dũng nói.

Theo ông Bảo Ân, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng sức khỏe nam giới và cộng đồng (CARMAH), hội nghị đưa ra nhiều thông tin có giá trị với những người hỗ trợ cộng đồng cũng như trung tâm CARMAH. Bộ tài liệu can thiệp chemsex dành cho tiếp cận viên cộng đồng của Việt Nam sẽ giúp cho các các nhân viên của phòng khám TestSGN, được hỗ trợ bởi CARMAH, có thêm công cụ hữu hiệu để sàng lọc,tư vấn, và can thiệp giúp các bạn có nguy cơ sử dụng chất trong nhóm MSM giảm thiểu những tác hại về mặt sức khỏe cũng như nguy cơ lây nhiễm HIV.

Có thể bạn quan tâm

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện K phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Phẫu thuật vi phẫu giúp bệnh nhân người Nga thoát nguy cơ liệt nửa người do u não lớn

Từ tình trạng u não kích thước lớn, nguy cơ liệt nửa người, nữ bệnh nhân E.L. (37 tuổi, quốc tịch Nga) đã phục hồi vận động sau phẫu thuật tại Bệnh viện K. Trường hợp này cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng kỹ thuật hiện đại trong điều trị các bệnh lý thần kinh phức tạp ngay tại Việt Nam.

Lãnh đạo Bệnh viện 19-8 chúc mừng bệnh nhân ra viện.

Hành trình vượt bạo bệnh của một người mẹ hiếm muộn mắc u lympho

Với chị N.T.T.H. (sinh năm 1989, ở Hà Đông, Hà Nội), hành trình được trở về nhà sau khi trải qua 9 năm hiếm muộn, mắc u lympho là một cuộc hồi sinh đầy kỳ tích. Dù chặng đường phía trước còn gian nan, nhưng với chỗ dựa là người con bé bỏng, niềm tin về cuộc sống trong chị H. chưa bao giờ mạnh mẽ đến vậy.

Nhân viên y tế nhập liệu hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân.

Tây Ninh đẩy mạnh số hóa, thu hút nhân lực y tế

Ngày 4/5, Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thông tin, tính đến hết quý I/2026, toàn tỉnh đã tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 3,1 triệu người, đạt tỷ lệ 96,94%, vượt xa mục tiêu đề ra. Song song đó, bệnh án điện tử đã được triển khai tại 4 bệnh viện, giúp giảm thiểu giấy tờ, nâng cao khả năng lưu trữ và chia sẻ dữ liệu y tế.

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

Liệu có cần nhịn ăn tuyệt đối trước khi chẩn đoán hình ảnh hay có khung giờ nào là tốt nhất để chụp chiếu hiệu quả tốt nhất? Hãy cùng nghe tư vấn từ Bác sĩ để giải đáp cho thắc mắc này.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Như Hải, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) hướng dẫn sinh viên về thực hành lâm sàng răng hàm mặt.

Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành y tế

Đào tạo bác sĩ nội trú cũng là một hệ đào tạo đặc thù của khối ngành sức khỏe. Trong bối cảnh cả ngành y tế cũng như giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, thì việc đào tạo đội ngũ nhân lực này cũng cần phải có những thay đổi.

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.