Chè Thái Nguyên từng bước chuyển mình thành chuỗi giá trị quốc gia

Chè Thái Nguyên từng bước chuyển mình thành chuỗi giá trị quốc gia

Phát triển ngành chè theo chuỗi giá trị, gắn với ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, đang trở thành hướng đi tất yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cho ngành chè Việt Nam. Đây cũng là nội dung được nhấn mạnh trong nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong giai đoạn mới.

tit-phu-1-che-thai-nguyen-1-8083.jpg

Trong quá trình cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững, nhiều ngành hàng truyền thống đang bộc lộ những hạn chế nội tại, buộc phải điều chỉnh để thích ứng. Ngành chè Việt Nam là một trường hợp điển hình.

Dù có nền tảng lịch sử và giá trị văn hóa lâu đời, sản xuất chè vẫn chủ yếu phân tán, giá trị gia tăng thấp và chưa hình thành được một thương hiệu quốc gia đủ sức cạnh tranh.

Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII đã xác định rõ yêu cầu nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh của nông sản. Đối với ngành chè, điều đó đồng nghĩa với việc phải chuyển đổi mô hình phát triển, từ sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức theo chuỗi giá trị, từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng.

Trong bối cảnh đó, từ một sản phẩm mang tính đặc sản địa phương, chè Thái Nguyên đang được tổ chức lại theo chuỗi giá trị có kiểm soát, gắn với yêu cầu minh bạch và tiêu chuẩn thị trường, từng bước hướng tới quy mô và vị thế của một ngành hàng có ý nghĩa quốc gia.

tit-phu-2-che-thai-nguyen-6262.jpg

Năm 2025, ngành chè Việt Nam duy trì quy mô sản xuất tương đối ổn định với khoảng 128.000ha, sản lượng hơn 1 triệu tấn búp tươi, tương đương khoảng 245.000 tấn chè khô; kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 238 triệu USD, với thị trường trải rộng trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là nền tảng quan trọng cho phát triển ngành trong giai đoạn tiếp theo.

Tuy nhiên, quy mô sản xuất chưa chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế. Giá xuất khẩu bình quân hiện chỉ đạt khoảng 1.000-1.200 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với mức 2.000-3.000USD/tấn của nhiều quốc gia sản xuất chè lớn như Trung Quốc, Ấn Độ...

Chênh lệch này phản ánh hạn chế trong tổ chức sản xuất và cấu trúc chuỗi giá trị. Cụ thể, sản xuất chè vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, thiếu liên kết giữa các khâu từ trồng, chế biến đến tiêu thụ. Điều này khiến chất lượng sản phẩm không đồng đều, chi phí gia tăng và khả năng kiểm soát thị trường còn hạn chế. Khi chuỗi giá trị chưa được thiết lập hiệu quả, phần lớn giá trị gia tăng không nằm ở khâu sản xuất.

Đồi chè Cầu Đá, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: ÂU NGỌC NINH)

Đồi chè Cầu Đá, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: ÂU NGỌC NINH)

Trong xu thế chung của ngành, Thái Nguyên tiếp tục giữ vai trò trung tâm chè chất lượng cao của cả nước với khoảng 23.700ha và sản lượng gần 285.000 tấn búp tươi mỗi năm. Một số doanh nghiệp, hợp tác xã đã đầu tư nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm cao cấp, từng bước tiếp cận phân khúc thị trường có giá trị cao hơn như Hương Vân Trà, Tân Cương Xanh, Tuyết Hương...

Tuy vậy, các chuyển động này vẫn mang tính cục bộ. Liên kết chuỗi chưa đồng bộ, quy mô sản xuất còn phân tán, chưa hình thành được lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để dẫn dắt thị trường. Nếu không tổ chức lại sản xuất theo chuỗi và nâng cao năng lực liên kết, lợi thế về quy mô sẽ khó chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh thực sự trên thị trường quốc tế.

tit-phu-3-rs.jpg

Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, việc đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và minh bạch thông tin đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nông sản. Quyết định số 100/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc đã tạo cơ sở để xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý và kết nối thị trường.

Đối với ngành chè, truy xuất nguồn gốc không chỉ phục vụ cung cấp thông tin sản phẩm, mà trực tiếp tham gia vào quá trình kiểm soát chất lượng. Thông tin về vùng trồng, quy trình sản xuất, chế biến và lưu thông được ghi nhận và liên thông, qua đó nâng cao khả năng giám sát và hạn chế phụ thuộc vào kiểm tra thủ công. Phương thức quản lý cũng từng bước chuyển từ kiểm tra tại khâu cuối sang kiểm soát ngay từ khâu sản xuất.

Việc minh bạch thông tin là điều kiện cần để sản phẩm chè tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao thí dụ như Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh. Khi dữ liệu được xác thực và thống nhất, niềm tin của đối tác và người tiêu dùng được củng cố, tạo thuận lợi cho việc mở rộng thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu.

Ở góc độ rộng hơn, truy xuất nguồn gốc góp phần định hình lại cách tổ chức sản xuất. Dữ liệu trở thành căn cứ để chuẩn hóa quy trình, kết nối các khâu trong chuỗi và nâng cao hiệu quả quản lý. Sản xuất vì vậy không còn vận hành theo kinh nghiệm riêng lẻ, mà gắn với yêu cầu của thị trường và tiêu chuẩn chung của chuỗi giá trị.

z7755216099856-a665a791dd14bab48f6c274e9cf19cdb-5171.jpg
Đồi chè Cầu Đá, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: NGỌC HẢI)

Tuy nhiên, việc triển khai vẫn gặp khó khăn do chi phí đầu tư, hạ tầng công nghệ và năng lực tiếp cận của các hộ sản xuất còn hạn chế. Nếu không có giải pháp phù hợp, quá trình áp dụng sẽ thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả chung. Truy xuất nguồn gốc vì vậy không chỉ là một công cụ kỹ thuật, mà là một bước chuyển trong phương thức phát triển. Khi được triển khai đồng bộ, đây sẽ là nền tảng để ngành chè nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

tit-phu-4-rs.jpg

Cùng với truy xuất nguồn gốc, việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành yếu tố quyết định trong nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm chè. Nghị quyết số 52-NQ/TW về chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã xác định rõ vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp.

Trong thực tế, các tiến bộ kỹ thuật đã từng bước được áp dụng vào sản xuất chè, từ khâu giống, canh tác đến chế biến. Việc sử dụng giống mới có năng suất và chất lượng cao, kết hợp với các giải pháp canh tác như tưới tự động, theo dõi môi trường và quản lý dịch hại, góp phần nâng cao năng suất và ổn định chất lượng sản phẩm.

vna-potal-che-thai-nguyen-boi-thu-dip-tet-8576601-8027.jpg
Các sản phẩm chè năm nay bán chạy hơn mọi năm, giá trị tăng khoảng 20- 30%. (Ảnh: TTXVN)

Ở khâu chế biến, việc đầu tư thiết bị và cải tiến quy trình giúp kiểm soát tốt hơn các yếu tố kỹ thuật, bảo đảm tính đồng đều và giữ được đặc trưng của sản phẩm. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu của các thị trường có tiêu chuẩn cao. Chuyển đổi số cũng đang từng bước thay đổi phương thức quản lý sản xuất. Dữ liệu được thu thập, lưu trữ và kết nối giữa các khâu, tạo điều kiện cho việc giám sát, truy xuất và điều hành hiệu quả hơn. Khi đó, sản xuất không còn phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm, mà dựa trên thông tin và tiêu chuẩn cụ thể.

Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành chè vẫn chưa đồng đều. Phần lớn các hộ sản xuất quy mô nhỏ còn hạn chế về vốn, kỹ năng và khả năng tiếp cận công nghệ. Đây là yếu tố cần được quan tâm nếu muốn nâng cao hiệu quả chung của toàn ngành. Việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số vì vậy không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật, mà là điều kiện cần để ngành chè nâng cao giá trị gia tăng và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.

tit-phu-5-rs.jpg

Bên cạnh ứng dụng khoa học công nghệ, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị là yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành chè. Chủ trương này đã được nhấn mạnh trong nhiều định hướng phát triển nông nghiệp, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, nông dân là chủ thể và hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất. Thực tế cho thấy, liên kết giữa các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ đã bước đầu hình thành ở một số địa phương, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm và ổn định đầu ra.

Đồi chè Cầu Đá, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: ĐÀO CẢNH)

Đồi chè Cầu Đá, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: ĐÀO CẢNH)

Tuy nhiên, mức độ liên kết còn hạn chế, chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong toàn chuỗi. Khi thiếu liên kết, sản xuất khó được tổ chức theo tiêu chuẩn thống nhất, vùng nguyên liệu phân tán, chi phí tăng và khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn bị hạn chế. Ngược lại, khi chuỗi được thiết lập ổn định, các khâu được phối hợp đồng bộ, chất lượng sản phẩm được kiểm soát tốt hơn và giá trị gia tăng được giữ lại nhiều hơn trong nước.

Trong bối cảnh đó, việc phát triển các mô hình liên kết bền vững, gắn với doanh nghiệp đầu mối và vùng nguyên liệu ổn định, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất và kết nối với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng liên kết chuỗi vẫn gặp khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu cơ chế ràng buộc và hạn chế về năng lực quản trị của các chủ thể tham gia. Đây là những vấn đề cần được giải quyết đồng bộ để chuỗi giá trị vận hành hiệu quả. Phát triển liên kết chuỗi vì vậy không chỉ là giải pháp tổ chức sản xuất, mà là điều kiện để ngành chè chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao giá trị và hiệu quả theo chiều sâu.

tit-phu-6-rs.jpg

Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển kinh tế. Đối với ngành chè, đây không chỉ là định hướng, mà là lợi thế cạnh tranh đặc thù.

Chè Thái Nguyên không đơn thuần là một sản phẩm nông nghiệp, mà là kết tinh của lịch sử, văn hóa và lối sống. Từ không gian làng quê đến đời sống đô thị, từ sinh hoạt thường nhật đến những nghi thức thưởng trà, văn hóa trà đã trở thành một phần của bản sắc dân tộc. Trên nền tảng đó, quá trình phát triển ngành chè đang tạo ra cấu trúc giá trị đa tầng, trong đó kinh tế, văn hóa và xã hội đan xen và bổ trợ lẫn nhau.

Đông đảo du khách tham quan và lựa chọn các sản phẩm chè tại Hợp tác xã chè Hảo Đạt, xã Tân Cương. (Ảnh: TTXVN)

Đông đảo du khách tham quan và lựa chọn các sản phẩm chè tại Hợp tác xã chè Hảo Đạt, xã Tân Cương. (Ảnh: TTXVN)

Sản xuất chè không chỉ tạo ra hàng hóa, mà còn duy trì sinh kế, gìn giữ tri thức bản địa và góp phần phát triển cộng đồng nông thôn. Đặc biệt, việc phát triển các mô hình du lịch trải nghiệm, không gian văn hóa trà đang mở rộng giá trị sản phẩm từ “uống” sang “trải nghiệm”, từ giá trị vật chất sang giá trị tinh thần. Đây chính là hướng đi để nâng tầm chè Thái Nguyên từ một sản phẩm tiêu dùng thành một sản phẩm văn hóa.

Trong bối cảnh hội nhập, chính sự gắn kết giữa chất lượng sản phẩm và chiều sâu văn hóa đang giúp chè Thái Nguyên từng bước vượt ra khỏi phạm vi đặc sản địa phương, hướng tới định hình một thương hiệu có giá trị tổng hợp. Một thương hiệu không chỉ dựa trên sản phẩm, mà còn được xây dựng trên câu chuyện, bản sắc và niềm tin của thị trường.

tit-phu-7-rs.jpg

Theo định hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2050, nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với công nghệ và tổ chức theo chuỗi giá trị. Với ngành chè, đây là hướng đi tất yếu để vượt qua giới hạn của sản xuất phân tán và giá trị gia tăng thấp. Trong tiến trình đó, chè Thái Nguyên đang dần chuyển từ một sản phẩm mang tính địa phương sang cách tổ chức sản xuất có liên kết hơn, nơi các khâu từ trồng, chế biến đến tiêu thụ từng bước được kết nối theo những yêu cầu chung của thị trường. Sự chuyển dịch này không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, mà còn tạo nền tảng để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao, đặc biệt ở những phân khúc có giá trị lớn.

Để đạt được điều đó, việc hoàn thiện cơ chế, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi từ vẫn giữ vai trò then chốt. Khi các yếu tố này được triển khai đồng bộ, giá trị của ngành chè không chỉ nằm ở sản phẩm, mà còn được hình thành từ cách tổ chức sản xuất, mức độ minh bạch thông tin và niềm tin của thị trường.

Trên nền tảng ấy, câu chuyện của chè Thái Nguyên không dừng lại ở một sản phẩm hay một địa phương, mà gợi mở cách một ngành hàng có thể tự tái cấu trúc để thích ứng với những đòi hỏi mới. Khi quá trình này được duy trì một cách bền bỉ và nhất quán, việc nâng cao giá trị, mở rộng thị trường, hay đạt tới quy mô tỷ đô sẽ không còn là mục tiêu theo đuổi riêng rẽ, mà là kết quả tích tụ tự nhiên của một cách làm đã dần đi vào chiều sâu.

Có thể bạn quan tâm

Người sáng lập thương hiệu thịt lợn sạch Sáng Nhung: “Làm nông nghiệp sạch không có chỗ cho thử nghiệm”

Người sáng lập thương hiệu thịt lợn sạch Sáng Nhung: “Làm nông nghiệp sạch không có chỗ cho thử nghiệm”

Từ một người nông dân từng trải qua biến cố với thực phẩm bẩn, ông Nguyễn Ngọc Sáng, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Chế biến thực phẩm an toàn Sáng Nhung (Tuyên Quang) đã lựa chọn con đường khó: Xây dựng chuỗi nông nghiệp sạch khép kín, nuôi lợn bằng thảo dược và theo đuổi mô hình kinh tế tuần hoàn.  

Một góc đô thị tại Vinhomes Oceanpark 2 (Hưng Yên).

Sức bật mạnh mẽ của Hưng Yên

Sau khi hợp nhất, tỉnh Hưng Yên có thế và lực rất lớn để tăng tốc phát triển trên nhiều lĩnh vực. Nằm giữa vùng tăng trưởng động lực phía bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, tỉnh có điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, tăng thu ngân sách, tập trung đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng và nâng cao đời sống cho nhân dân.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

EVNNPC chủ động các giải pháp linh hoạt, bền vững bảo đảm cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng.

EVNNPC chủ động các giải pháp linh hoạt, bền vững bảo đảm cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng

Trong bối cảnh mùa hè năm 2026 được dự báo tiếp tục xuất hiện nhiều đợt nắng nóng gay gắt, nhu cầu sử dụng điện tăng cao trên diện rộng, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.

PV GAS đã tiếp nhận tàu PACIFIC SUCCESS với hơn 71.000 tấn LNG nhập khẩu từ Australia.

PV GAS nhập khẩu gần 120 nghìn tấn LNG và LPG

Ngày 29/4, Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) cho biết, đơn vị đã nhập khẩu gần 120 nghìn tấn LNG và LPG nhằm bảo đảm duy trì ổn định cung ứng năng lượng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Ảnh minh họa.

Chứng khoán ngày 29/4: VN-Index giảm gần 22 điểm, khối ngoại bán mạnh VIC

Phiên giao dịch ngày 29/4, sắc đỏ bao trùm thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn ghi nhận áp lực bán mạnh mẽ khiến các chỉ số chính giảm sâu. Ngành bất động sản có mức giảm mạnh nhất thị trường với 3,41% chủ yếu đến từ mã VIC, VHM, BCM. Chốt phiên, VN-Index giảm 21,74 điểm, xuống mức 1.854,1 điểm.

Tỉnh Khánh Hòa đang quản lý hơn 5.120 tàu cá, tuy nhiên số lượng tàu cá nhỏ, hành nghề khai thác hải sản gần bờ còn khá nhiều. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản tàu cá: Mở lối cho sinh kế mới bền vững

Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng suy giảm, áp lực lên hệ sinh thái biển gia tăng và yêu cầu chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trở nên cấp bách, Khánh Hòa đang đứng trước một lựa chọn mang tính bước ngoặt: cơ cấu lại đội tàu khai thác gắn với chuyển đổi sinh kế cho ngư dân.

Các dự án năng lượng sạch cần nguồn vốn lớn và dài hạn. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Khơi thông nguồn lực tài chính xanh cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững, tài chính xanh được xác định là nguồn lực quan trọng. Tuy nhiên, việc tiếp cận dòng vốn này vẫn còn không ít khó khăn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa tiêu chí và nâng cao năng lực doanh nghiệp để nguồn lực được phân bổ hiệu quả.