Cần có niềm tin vào sân khấu kịch hát truyền thống

Sân khấu nói chung, sân khấu kịch hát truyền thống tương lai sẽ ra sao khi khán giả trẻ không còn mấy yêu thích, bởi họ có nhiều sự lựa chọn giải trí. Đã có nhiều ý kiến đề xuất nên coi tuồng, chèo như một hình thức văn hóa đặc thù, lưu giữ những gì thuộc về miền ký ức của dân tộc và khi đó giới trẻ mới cảm thấy hứng thú. GS, NSND TRẦN BẢNG, người từng có hơn 50 năm gắn bó với nghề đạo diễn chèo và được giới sân khấu đồng thuận vinh danh là “cụ Trùm chèo thời nay”, đã có những chia sẻ về định hướng hoạt động của sân khấu kịch hát truyền thống.

Một vở diễn trong chương trình “Hà Nội đêm thứ bảy” của Nhà hát Chèo Hà Nội.
Một vở diễn trong chương trình “Hà Nội đêm thứ bảy” của Nhà hát Chèo Hà Nội.

Phóng viên (PV): Giáo sư đánh giá thế nào về tình hình hoạt động của sân khấu kịch hát truyền thống hiện nay?

GS, NSND Trần Bảng: Hiện nay, nhận định tuồng, chèo đang suy thoái chiếm một lượng tin khá lớn trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có nhiều lý do, nhiều nguyên nhân có thể dễ dàng kể ra như: thay đổi thị hiếu của khán giả hiện đại, ngày càng nhiều phương tiện giải trí hấp dẫn… Thế nhưng theo tôi, nguyên nhân cơ bản nhất chính là do chủ quan những người làm chèo, làm tuồng. Chính các nghệ sĩ làm nghề đã mất niềm tin vào tuồng, chèo cổ. Họ không còn tin vào sức sống các loại hình này và tự bản thân họ đã cho rằng, tuồng, chèo cổ thuộc về quá khứ rồi. Vì thế, họ tìm cách để có những hình thức tuồng, chèo hiện đại, thậm chí hợp tác, kết hợp với nước ngoài để làm tuồng, làm chèo như những vở Nhà hát Tuồng Việt Nam kết hợp Nhà hát mặt nạ Pháp. Không thể kết luận điều đó là do họ làm thương mại, nhưng khi thực hiện công việc đó chứng tỏ họ không còn tin, không còn thấy giá trị, cái đẹp của sân khấu truyền thống. Tại sao người làm nghề lại mất niềm tin vào chính ngành nghệ thuật mình đang cống hiến? Tôi cho rằng, vì sự hiểu biết của người làm nghề ngày nay có phần hạn chế cho nên thật khó nhận thấy cái hay, cái đẹp… và thái độ với vốn cổ vì thế thiếu đi sự nhận biết có tính cơ bản. Thật không còn biết đánh giá thế nào nữa khi người đang làm nghề lại cho rằng, một vở pha tạp, hát chèo nhờ ca sĩ, dàn nhạc dùng nhạc Tây là vở truyền thống của đơn vị mình như một nhà hát chèo... Kịch mục của các đơn vị chèo tuồng liệu có bao nhiêu vở cổ? Nhà hát Tuồng Việt Nam phục dựng một số vở như: Đào Tam Xuân, Triệu Đình Long, Sơn Hậu… cũng khá nghiêm túc, song về mặt nghệ thuật biểu diễn của diễn viên thì không thể so sánh với thế hệ những Quang Tốn, Bạch Trà… Hay về danh nhân Đào Tấn, người ta chỉ nghiên cứu, viết nhiều về sách, về lý luận mà quên đi những vở diễn của ông. Có thể kết luận, người làm nghề đang thiếu tự tin vào nghề, thụ động và tính toán riêng tư, chọn nghệ thuật như một công việc nào đó để rồi sống bằng nghề tay trái, phi nghệ thuật. Chính người làm nghề mất niềm tin thì làm sao thuyết phục được người khác. Đối xử với những tinh hoa, vốn quý như thế, chẳng thể trách khán giả không còn mặn mà với tuồng, chèo.

PV: Vậy theo GS, cần làm gì để khiến sân khấu tuồng, chèo tiếp tục phát triển tốt?

GS, NSND Trần Bảng: Cần bổ sung thêm kiến thức để người làm nghề tin ở nghề, thấy được cái đẹp, cái hay, cái độc đáo của tuồng, chèo. Có thể khẳng định, cái độc đáo của tuồng, chèo, cái khâu cần phải bảo tồn nhất chính là nghệ thuật biểu diễn của nó. Sân khấu phương Đông khác hẳn phương Tây (đây là nói phương Tây trước thời kỳ hiện đại) khi sân khấu phương Tây chỉ là minh họa kịch bản, sân khấu là những biểu hiện, những động tác hình thể…, còn tuồng, chèo cổ thì kịch bản chỉ là cái tích, cái xương sống, hay như ta gọi bây giờ nó chỉ là đề cương để người biểu diễn ngẫu hứng sáng tạo. Vì vậy, phải chú ý đề cao hơn nữa nghệ thuật biểu diễn độc đáo của sân khấu truyền thống. Người diễn trò trên sân khấu truyền thống phải tinh thông nghề nghiệp đạt tới mức điêu luyện về kỹ xảo để có thể thông qua kỹ xảo ấy mà biểu hiện, mà tỏa sáng những ý thơ, cái thần của tích và nhân vật mình đóng. Sự giận dữ biểu hiện thông qua đường xiến gằn của đôi hia, ở nét run rẩy của mười đầu ngón tay, tiếng nức nở khóc than nằm ở cách xử lý ngữ khí trong một câu nói sử hay cách luyến láy trong một làn điệu hát… Nghệ thuật biểu diễn đó lạ lắm và rất giàu tính kỳ, thí dụ như kỹ thuật biểu diễn của một nghệ nhân đóng vai quỷ tôi từng được xem ở hội diễn nghiên cứu chèo năm 1960. Nghệ nhân này ở tư thế ngồi xếp chân bằng tròn nhảy từ hòm đồ xuống sàn diễn và vẫn trong tư thế đó nhảy khắp sân khấu với sức bật cao khác thường. Điều đó đòi hỏi sự kỳ lạ, khác thường, người thường không thực hiện được và vì thế, nó thu hút sự tán thưởng của người xem… Hay như ngày xưa cụ Tảo đi trên đôi hia cong thể hiện một kỹ thuật thật tài tình và điêu luyện khiến người xem hết sức thán phục. Bà Bạch Trà diễn tả cảnh chồng bị giết chỉ bằng mười đầu ngón tay không có nước mắt mà sự truyền tả cái mất mát thật khôn lường. Ngày nay, các diễn viên cũng vẫn diễn những động tác đó, nhưng sự biểu cảm thì thật là một trời một vực so với các nghệ nhân xưa. Khi xem các vở cổ, thấy sự mất mát rất rõ trong phần biểu diễn của diễn viên vì mới chỉ dừng lại ở sự bắt chước một cách hời hợt nghệ thuật diễn của nghệ nhân xưa.

Công tác bảo tồn của chúng ta còn rất nhiều điều cần chấn chỉnh. Kịch mục cổ ở các đoàn hầu như không có. Ngay cả Nhà hát Chèo Việt Nam có kịch mục song việc biểu diễn các vở cổ không chiếm được bao nhiêu đêm đỏ đèn. Công tác nghiên cứu cũng cần quan tâm vì phần lớn những công trình nghiên cứu của chúng ta mới chung chung, chưa có người thạo về nghệ thuật biểu diễn làm nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm...

PV: Người ta hay đòi hỏi phải đem công nghệ phục vụ cho sân khấu. GS thấy hướng làm đó có nên không?

GS, NSND Trần Bảng: Diễn sân khấu truyền thống phải giữ được một môi trường diễn đúng cho từng loại hình. Còn nhớ, khi tham gia Hội diễn sân khấu năm 1982 ở Bun-ga-ri, đoàn Nhật Bản đã mang toàn bộ sân khấu của họ sang với đầy đủ hệ thống sàn gỗ, đường đi… phục vụ cách diễn riêng của họ. Rất cần một sân khấu riêng để tạo môi trường diễn độc đáo. Ta đã có Rạp hát Hồng Hà cho tuồng, Rạp Kim Mã cho chèo song những người thực hiện đã không đi đúng hướng khi xây dựng cả hai rạp này đều cố đưa vào một mẫu sân khấu bình thường để có thể cho các loại hình khác thuê địa điểm, không phải sân khấu để tạo môi trường thích hợp với từng kịch chủng.

Bên cạnh đó, các phương tiện hiện đại đang tranh nhau thể hiện, che lấp nghệ thuật biểu diễn mà không nhận thức được rằng, mọi loại hình nghệ thuật phải lấy tiêu chí phục vụ cho nghệ thuật biểu diễn. Phải luôn tâm niệm rằng, ở tuồng chèo mọi cảnh trí, không gian, thời gian đều nằm ở nghệ thuật biểu diễn của diễn viên. Đừng nhân danh đưa công nghệ hiện đại vào sân khấu mà dùng tia chớp điện nhấp nháy đến mức không còn nhìn thấy diễn viên đang thể hiện gì. Những người làm kiểu đó đã quên rằng, sân khấu chúng ta độc đáo chính là vì mọi hình thức thể hiện đều nằm ở ngôn ngữ cơ thể diễn viên là chủ yếu. Các nghệ thuật khác như trang trí, âm nhạc, ánh sáng là để phục vụ chứ không thể chiếm vị trí của nghệ thuật biểu diễn, khiến người diễn viên mất đi tính tổng thể khi trình diễn và vì thế, làm mai một nghệ thuật truyền thống.

PV: Xin cảm ơn Giáo sư!

Có thể bạn quan tâm

Hoa hậu Doanh nhân Việt Nam 2026 Nguyễn Hoàng Vân (giữa) tại cuộc thi. (Ảnh: BÌNH NGUYỄN)

Nữ doanh Thành phố Hồ Chí Minh đăng quang Hoa hậu Doanh nhân Việt Nam 2026

Đêm chung kết Hoa hậu Doanh nhân Việt Nam 2026 khép lại, thí sinh Nguyễn Hoàng Vân giành ngôi vị cao nhất. Chinh phục vương miện cùng 2 giải phụ, nữ doanh nhân Thành phố Hồ Chí Minh còn tạo ấn tượng bằng câu trả lời ứng xử giàu cảm hứng và câu chuyện kinh doanh gắn với việc giúp những người lầm lỡ tìm lại con đường trở về.

Dàn hợp ca Quê Hương tự hào mang những giai điệu hợp xướng cổ điển và nhạc cách mạng Việt Nam đến với công chúng quốc tế. (Ảnh: MINH DUY)

Giai điệu cổ điển Việt Nam gây ấn tượng tại Liên hoan hợp xướng quốc tế lần thứ 28

Ngày 15/3, thủ đô Paris rộn ràng với sự trở lại của Liên hoan hợp xướng quốc tế lần thứ 28 do Hiệp hội Music and Friends khởi xướng. Hợp ca Quê Hương của cộng đồng người Việt tại Pháp và các dàn hợp xướng từ nhiều quốc gia cùng chia sẻ niềm đam mê âm nhạc trong một không gian đậm chất nghệ thuật.

Mùa Xuân ở Tây Nguyên thường kéo dài để người dân nghỉ ngơi sau cả năm vất vả.

Xuân an vui trên đại ngàn Tây Nguyên

Tây Nguyên, mùa Xuân mang dáng dấp rất đặc biệt. Người dân gọi đó là mùa “ning nơng”, mùa “ăn năm uống tháng”..., thường bắt đầu từ cuối tháng 11 năm trước và kéo dài đến tận tháng 3, tháng 4 năm sau.

Đại sứ Nguyễn Phú Bình, Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài phát biểu tại sự kiện.

Giỗ Tổ Hùng Vương tái hiện trong Lễ hội Văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản lần thứ 9

“Lễ hội Văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản lần thứ 9 – Tái hiện Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương” dự kiến diễn ra ngày 19/4 tại thành phố Osaka (Nhật Bản). Đây là sự kiện văn hóa có ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản; đồng thời là hoạt động giao lưu văn hóa góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.

Nghị quyết số 80-NQ/TW mở rộng không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam

Nghị quyết số 80-NQ/TW mở rộng không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam

Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, PGS,TS Bùi Hoài Sơn, cho rằng điểm nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là lần đầu nhiều mục tiêu chiến lược được đặt ra theo hướng toàn diện, gắn chặt với hệ thống giải pháp và yêu cầu tổ chức thực hiện, mở rộng không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập.

Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam Trịnh Ngọc Chung.

Đồng bào tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam hướng về ngày hội lớn của đất nước

Với đặc thù là địa điểm văn hóa, du lịch có một số cộng đồng dân tộc lưu trú, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cũng như thông tin, tuyên truyền về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Biên tập viên Hữu Trí là người viết format và tổ chức sản xuất chương trình "Ting Ting". (Ảnh: VTV)

Biên tập viên Hữu Trí với cách kể chuyện về tài chính cho người trẻ trên VTV3

Trong bối cảnh người trẻ ngày càng quan tâm đến việc quản lý tiền bạc và xây dựng nền tảng tài chính cá nhân từ sớm, "Ting Ting" trên VTV3 đang trở thành chương trình giáo dục tài chính được thế hệ Gen Z quan tâm. Người đứng sau chương trình, trực tiếp xây dựng ý tưởng, tổ chức sản xuất là biên tập viên Hữu Trí.

Nghệ sĩ Nhân dân Trịnh Thúy Mùi - người luôn đắm đuối với sân khấu Việt Nam. (Ảnh: BIN LEO)

Nghệ sĩ Nhân dân Trịnh Thúy Mùi - người “giữ lửa” nghệ thuật sân khấu Việt Nam

Dù rất bận rộn trên cương vị Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, song Nghệ sĩ Nhân dân Trịnh Thúy Mùi vẫn miệt mài khẳng định dấu ấn sáng tạo qua nhiều chương trình, vở diễn. Với bà, sân khấu là lẽ sống, và sáng tạo nghệ thuật là cách để tái tạo năng lượng tích cực.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi tặng hoa chúc mừng tọa đàm.

Đà Nẵng: Tạo môi trường thuận lợi phát triển lĩnh vực điện ảnh và nhiếp ảnh thành phố

Sáng 13/3, Liên hiệp các hội văn học-nghệ thuật thành phố Đà Nẵng tổ chức tọa đàm với chủ đề “Giải pháp phát huy ngành Điện ảnh và Nhiếp ảnh - từ sáng tác, sản xuất đến lan tỏa giá trị tác phẩm” nhân kỷ niệm 73 năm Ngày Truyền thống Nhiếp ảnh và Điện ảnh Việt Nam (15/3/1953-15/3/2026).

[Video] Lan tỏa tình yêu đất nước và con người Việt Nam qua ống kính “Việt Nam trên hành trình đổi mới”

[Video] Lan tỏa tình yêu đất nước và con người Việt Nam qua ống kính “Việt Nam trên hành trình đổi mới”

Những khoảnh khắc về con người, cuộc sống và sự đổi thay của đất nước đã được ghi lại sinh động qua cuộc thi ảnh báo chí “Việt Nam trên hành trình đổi mới” do Báo Nhân Dân tổ chức. Mỗi bức ảnh không chỉ phản ánh nhịp sống phát triển của đất nước mà còn lan tỏa tình yêu quê hương và niềm tự hào dân tộc.

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tiếp nhận ảnh tư liệu do gia đình bà Lê Phương trao tặng.

Khu Di tích Phủ Chủ tịch tiếp nhận ảnh tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chiều 12/3, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức Lễ tiếp nhận ảnh tư liệu do gia đình bà Lê Phương và gia đình ông Trịnh Hải trao tặng. Đây là tư liệu quý về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động chính trị, ngoại giao của Người và hoạt động đối ngoại của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam.