Cần chính sách đột phá để phát triển điện hạt nhân

Theo các đại biểu Quốc hội, việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận là đúng đắn và phù hợp với thực tiễn trước yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và cam kết giảm phát thải.
Quang cảnh phiên thảo luận của Quốc hội sáng 17/2. (Ảnh: DUY LINH)
Quang cảnh phiên thảo luận của Quốc hội sáng 17/2. (Ảnh: DUY LINH)

Lựa chọn chiến lược để bảo đảm an ninh năng lượng

Sáng 17/2, tiếp tục chương trình Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

Phát biểu tại hội trường, đại biểu Dương Khắc Mai (Đắk Nông) nhấn mạnh, với nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng, việc phát triển điện hạt nhân là một tất yếu khách quan. Ông dẫn chứng nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang tập trung đầu tư, nâng cấp các lò phản ứng hạt nhân để bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải carbon.

Nhận định về tầm quan trọng của dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, đại biểu Dương Khắc Mai cho rằng, việc Quốc hội ban hành cơ chế chính sách đặc thù là bước đi đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của thời đại.

Đây không chỉ là điều kiện để phát triển nguồn điện ổn định, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế-xã hội, mà còn là cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đắk Nông) phát biểu. (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đắk Nông) phát biểu. (Ảnh: DUY LINH)

Tuy nhiên, theo đại biểu, bên cạnh lợi ích tiềm năng, dự án còn đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực và an toàn môi trường. Việt Nam vẫn còn hạn chế trong lĩnh vực công nghệ hạt nhân, do đó cần có sự hợp tác chặt chẽ với các đối tác nước ngoài.

“Rất nhiều nhân lực chúng ta từng đào tạo cho các dự án trước đây hiện đang làm việc cho bên ngoài và ở nước ngoài. Trong khi đó, dự thảo Nghị quyết chưa đề cập rõ về chính sách thu hút, giữ chân nhân tài trong lĩnh vực này. Nếu không có chính sách về nhân lực phù hợp, sẽ khó triển khai thực hiện, vận hành dự án trong trước mắt và dài hạn”, ông Mai nhấn mạnh.

Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực bài bản, tạo cơ chế thu hút nhân tài, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực từ doanh nghiệp nhà nước, tư nhân trong nước nhằm giảm áp lực vốn đầu tư từ ngân sách.

Phát biểu tại phiên họp, ông Trần Quốc Nam - Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận cho biết, Đảng bộ và nhân dân tỉnh luôn trong tâm thế sẵn sàng thực hiện dự án, coi đây là cơ hội phát triển bền vững cho địa phương và cả nước.

Đại biểu Trần Quốc Nam (Ninh Thuận) phát biểu. (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu Trần Quốc Nam (Ninh Thuận) phát biểu. (Ảnh: DUY LINH)

Một trong những vấn đề quan trọng là công tác giải phóng mặt bằng để bảo đảm tiến độ dự án. Theo ông Nam, ngay từ năm 2009, khi chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân được phê duyệt, người dân trong vùng dự án đã sẵn sàng nhường đất cho công trình trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, sau hơn 15 năm, nhiều hộ gia đình vẫn mong mỏi chính sách đền bù, tái định cư hợp lý, bảo đảm đời sống tốt hơn.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, toàn bộ công tác giải phóng mặt bằng hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận phải hoàn thành trong năm 2025 để bàn giao đất sạch cho chủ đầu tư. Để làm được điều này, Ninh Thuận đã đề xuất thêm một số chính sách bổ sung liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tái định cư, bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân.

Ông Nam nhấn mạnh: Bà con vùng dự án chỉ có một nguyện vọng duy nhất - nơi ở mới phải thực sự tốt hơn, đời sống ổn định, ấm no, hạnh phúc. Đây cũng chính là mong muốn và điều mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã căn dặn trong chuyến thăm Ninh Thuận vào tháng 12/2024.

Đại biểu tỉnh Ninh Thuận cũng cho biết, với tinh thần “Việc gì làm được thì làm ngay, không chờ đợi”, tỉnh đang nỗ lực thực hiện các công việc cần thiết để bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ các phần việc được giao.

Ninh Thuận vì cả nước và cùng cả nước hoàn thành nhiệm vụ công trình trọng điểm đặc biệt quan trọng để đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận khẳng định.

Cơ chế đặc thù - động lực thúc đẩy tiến độ dự án

Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên phát biểu giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)

Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên phát biểu giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)

Tại phiên họp, Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên đã trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội về dự thảo Nghị quyết liên quan các cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh, nhu cầu điện của nước ta trong những năm tới là rất lớn, để đáp ứng tăng trưởng kinh tế 8-10% đến năm 2030, tổng công suất nguồn điện cần đạt khoảng 230.000 MW, gấp ba lần hiện nay. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt trung hòa carbon vào năm 2050, phát triển các nguồn điện sạch, bền vững là điều tất yếu.

Điện hạt nhân được xem là nguồn điện nền ổn định, có công suất khả dụng cao và giá thành hợp lý trong dài hạn. Đặc biệt, đây là nguồn điện giúp giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, Trung ương, Quốc hội và Chính phủ đã thống nhất chủ trương tái khởi động Chương trình phát triển điện hạt nhân và Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

Với tính chất phức tạp của dự án điện hạt nhân – đòi hỏi công nghệ cao, nguồn vốn lớn và thời gian triển khai kéo dài – việc xây dựng cơ chế chính sách đặc thù là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tiến độ.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên dẫn chứng, trên thế giới, để hoàn thành đầu tư một dự án điện hạt nhân tương tự, thời gian thường kéo dài khoảng 10 năm, nhanh nhất cũng từ 7-8 năm. Do đó, để bảo đảm mục tiêu hoàn thành dự án trong giai đoạn 2030-2031, cần có cơ chế đặc thù đủ mạnh nhằm đẩy nhanh tiến độ.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết đề xuất 5 nhóm chính sách đặc thù liên quan đến lựa chọn nhà đầu tư và nhà thầu; chuẩn bị và thực hiện đầu tư; cơ chế tài chính và thu xếp vốn; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; di dân, tái định cư và bảo đảm an sinh xã hội. Đây là những nội dung quan trọng giúp tạo điều kiện thuận lợi để triển khai đồng bộ các hạng mục công trình của dự án, từ đàm phán hiệp định đối tác, thu xếp vốn, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đến đào tạo nguồn nhân lực…

Dự thảo Nghị quyết lần này được xây dựng trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và bảo đảm tính đồng bộ, khả thi. Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên khẳng định, khi được Quốc hội thông qua, Nghị quyết sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng giúp các bộ, ngành, địa phương triển khai thuận lợi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Vì vậy, Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết về các cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án điện hạt nhân Ninh Thuận ngay tại kỳ họp này để làm cơ sở triển khai thực hiện, tận dụng các điều kiện thuận lợi, tinh thần và khí thế quyết tâm vượt khó, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công việc quan trọng ban đầu của dự án.

“Với tinh thần cầu thị, khẩn trương, không cầu toàn nhưng cũng không nóng vội, chủ quan, sau phiên thảo luận hôm nay, chúng tôi cam kết sẽ cùng Cơ quan chủ trì thẩm tra quán triệt thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao, nghiên cứu kỹ lưỡng và tiếp thu tối đa ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp này, làm cơ sở để khẩn trương triển khai thực hiện dự án. Trong quá trình triển khai dự án, nếu phát sinh các vấn đề mới hoặc phải sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách này, Chính phủ tiếp tục nghiên cứu để đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh.

Có thể bạn quan tâm

Các đại diện hai bên Việt Nam-Nhật Bản ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác tại diễn đàn. (Ảnh: MINH ĐỨC)

Đưa hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đổi mới sáng tạo ngày càng đi vào chiều sâu, kiến tạo các giá trị mới

Các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học và đại biểu tham dự diễn đàn đều bày tỏ tin tưởng, hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, từ kết nối sang hợp tác, từ hợp tác sang cùng phát triển và cùng tạo ra những giá trị mới.

Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng ký Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai sáng kiến trong giai đoạn khởi động.

Đà Nẵng: Khởi động sáng kiến Tech Circle thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ tại miền trung

Chiều 12/8, tại Đà Nẵng, Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng đã phối hợp khởi động sáng kiến Tech Circle thông qua chương trình Tech Circle #01. Đây là sáng kiến hướng tới việc tạo lập một không gian trao đổi thường xuyên, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, start-up và các tổ chức công nghệ.

Quang cảnh Hội thảo tại Hà Nội.

Xây dựng và phát triển các mạng lưới chuyên gia, trí thức trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Hội thảo là cơ hội để các bên cùng trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu không chỉ kết nối nguồn lực mà còn tạo ra các dự án, sản phẩm và kết quả hợp tác cụ thể phục vụ phát triển đất nước.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia định hướng thảo luận tại hội thảo. (Ảnh: NDA)

Định danh dữ liệu địa điểm để kết nối các cơ sở dữ liệu

Dữ liệu địa điểm gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Việc chuẩn hóa, định danh thống nhất và tạo khả năng liên thông lớp dữ liệu này được xác định là một yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển dịch vụ số và khai thác giá trị của dữ liệu.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Nhóm nghiên cứu của kỹ sư Lưu Xuân Bình thử nghiệm thiết bị đo đạc thể tích vật liệu trên xe tải.

Những sáng chế phục vụ cộng đồng

Từ quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị đo thể tích vật liệu trên xe tải, kỹ sư Lưu Xuân Bình đã phát triển thành công một mã định danh dạng mẫu hình hai chiều-một lựa chọn nữa để định danh đối tượng sau mã vạch và mã QR, với đặc điểm nổi bật là tăng được khoảng cách nhận diện. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Đại học Công nghệ Sydney-UTS, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia. (Ảnh: Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia cung cấp)

Mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam-Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia (VASEA) kỳ vọng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN)

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (Thiết kế: Mai Huyên)

Tạo bứt phá chiến lược, đưa Việt Nam làm chủ công nghệ cốt lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành với những mục tiêu bứt phá: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp nòng cốt; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.