Cải cách đột phá thể chế để kinh tế tư nhân phát triển

Tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP gần như không thay đổi trong hơn một thập kỷ qua. Làm thế nào để kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng một Việt Nam năng động và hội nhập quốc tế? TS Nguyễn Sĩ Dũng chia sẻ dưới góc nhìn của một chuyên gia.
Sản xuất tại Nhà máy ô-tô Trường Hải. Ảnh: NAM ANH
Sản xuất tại Nhà máy ô-tô Trường Hải. Ảnh: NAM ANH

Phóng viên (PV): Theo ông, nguyên nhân của những rào cản về thể chế khiến kinh tế tư nhân chưa thể bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh là gì?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Có nhiều nguyên nhân khiến kinh tế tư nhân ở nước ta chưa thể bứt phá như kỳ vọng, nhưng tựu trung lại, điểm nghẽn lớn nhất chính là thể chế. Mà thể chế ở đây không chỉ là luật pháp trên giấy, mà còn là cách luật được thực thi, môi trường điều hành và văn hóa chính trị - kinh tế bao quanh nó. Thứ nhất, thể chế của chúng ta vẫn thiên về “quản lý” hơn là “phục vụ và kiến tạo”. Điều này khiến doanh nghiệp tư nhân thường xuyên gặp khó trong tiếp cận đất đai, tín dụng, thị trường, thậm chí là cơ hội đầu tư công bằng.

Tình trạng xin - cho, phê duyệt mang tính chủ quan khiến cho nhiều doanh nghiệp rơi vào thế yếu, thiếu sự bảo đảm về mặt pháp lý để yên tâm làm ăn lâu dài.

Thứ hai, tư duy phát triển kinh tế tư nhân vẫn chưa thật sự nhất quán và mạnh mẽ. Dù Đảng ta đã có những chủ trương rất tiến bộ như khẳng định kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng của nền kinh tế”, nhưng khi chuyển hóa thành chính sách cụ thể và hành động thực tế, vẫn còn khoảng cách lớn. Ở một số nơi, doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa được đối xử công bằng như doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp FDI.

Thứ ba, không gian thể chế để kinh tế tư nhân lớn lên một cách bền vững vẫn còn chật hẹp. Chúng ta thiếu các chính sách hỗ trợ quy mô hóa doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ hay phát triển thương hiệu. Nhiều doanh nghiệp phải loay hoay trong “vùng trũng” giá trị gia tăng, chưa thể vươn lên làm chủ chuỗi cung ứng.

Cuối cùng, cần nói đến niềm tin. Thể chế không chỉ là quy định pháp luật mà còn là sự khẳng định niềm tin từ Nhà nước đối với doanh nghiệp. Khi doanh nhân còn cảm thấy không chắc chắn về môi trường đầu tư, về sự ổn định của chính sách hay nguy cơ bị “hình sự hóa quan hệ kinh tế”, thì rất khó để họ dám đầu tư lớn, đổi mới sáng tạo hay hội nhập sâu vào thị trường quốc tế.

Muốn tháo gỡ những điểm nghẽn này, chúng ta cần một cuộc cải cách thể chế toàn diện, trong đó kinh tế tư nhân không chỉ được thừa nhận bằng lời nói mà còn được bảo vệ và tiếp sức bằng hành động cụ thể.

PV: Một trong những bất cập bộc lộ thời gian qua là nhiều hộ kinh tế cá thể vẫn theo nếp kinh doanh cũ, thiếu động lực phát triển thành doanh nghiệp, thậm chí “không muốn lớn”, thưa ông?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Hiện tượng “không muốn lớn” của nhiều hộ kinh doanh cá thể không phải là điều ngẫu nhiên. Nó phản ánh một thực tế thể chế - kinh tế rất đáng suy ngẫm.

Chi phí chính thức và phi chính thức khi chuyển lên thành doanh nghiệp còn quá cao. Khi là hộ cá thể, họ có thể hoạt động đơn giản, thủ tục ít, kiểm tra ít, tiếp xúc với bộ máy công quyền cũng ít. Nhưng khi “lớn lên” thành doanh nghiệp, họ phải gánh thêm nhiều nghĩa vụ về thuế, bảo hiểm, sổ sách kế toán, và không ít rủi ro thanh tra, kiểm tra, thậm chí là bị gây khó dễ.

Bên cạnh đó, thể chế chưa thật sự khuyến khích người dân khởi sự và phát triển doanh nghiệp bài bản. Môi trường kinh doanh còn thiếu ổn định, chính sách chưa nhất quán và quan trọng hơn là thiếu những “bệ đỡ” thiết thực như tiếp cận tín dụng, mặt bằng, tư vấn pháp lý hay đào tạo quản trị. Trong bối cảnh như vậy, “an phận” làm hộ kinh doanh lại trở thành lựa chọn khôn ngoan.

Tâm lý sợ rủi ro và thiếu niềm tin vào hệ thống cũng là rào cản lớn. Nhiều người dân không sợ kinh doanh, nhưng họ sợ bị làm khó khi “chính danh”. Một khi vẫn còn tâm lý “đứng trong ánh sáng dễ bị soi”, thì động lực vươn lên sẽ bị triệt tiêu.

PV: Để tháo gỡ những điểm nghẽn và thúc đẩy kinh tế tư nhân, không thể thiếu cải cách đột phá về thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Muốn kinh tế tư nhân trở thành động lực chủ lực của nền kinh tế, thì không thể không bắt đầu từ cải cách thể chế. Bởi chính thể chế là cái “khuôn” mà trong đó mọi hoạt động kinh tế được định hình. Nếu cái khuôn này méo mó, thì kinh tế tư nhân không thể phát triển lành mạnh và bền vững được.

Tôi cho rằng, có ba nhóm giải pháp đột phá cần ưu tiên:

Trước hết, phải bảo đảm một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch và ổn định. Điều này bao gồm cả cải cách thủ tục hành chính, chống lạm quyền, loại bỏ tình trạng “xin - cho”, và đặc biệt là bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp bằng pháp luật thực chất, chứ không chỉ bằng những khẩu hiệu.

Cùng với đó, cần thiết kế chính sách thúc đẩy quy mô hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân. Đây là khâu đột phá để tạo ra “sếu đầu đàn” - những doanh nghiệp có năng lực toàn cầu, làm chủ công nghệ và chuỗi giá trị. Chính sách cần tập trung vào hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tiếp cận tín dụng dài hạn, cũng như mở rộng thị trường trong và ngoài nước.

Doanh nghiệp không thể lớn nếu bị bỏ mặc trong một môi trường thiếu hỗ trợ và đầy rủi ro. Do đó, phải xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững, từ giáo dục khởi nghiệp, dịch vụ pháp lý, logistics đến kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.

Nhà nước cần chuyển từ “chủ thể can thiệp” sang “nhà thiết kế thể chế và kiến tạo phát triển”. Khi Nhà nước đóng đúng vai, làm tốt vai, thì kinh tế tư nhân sẽ có không gian để lớn lên, đóng góp nhiều hơn và cùng đất nước vươn tới thịnh vượng.

PV: Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo, đóng góp khoảng 70% GDP vào năm 2030... Ông đánh giá thế nào về kỳ vọng này?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Tôi cho rằng, đây là một kỳ vọng hoàn toàn đúng đắn và cần thiết, bởi không có một nền kinh tế năng động, hiện đại, độc lập và tự cường nào mà lại thiếu vắng vai trò chủ lực của khu vực kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa được kỳ vọng ấy, chúng ta không thể chỉ trông chờ vào sự “phấn đấu” đơn lẻ của doanh nghiệp tư nhân. Điều kiện tiên quyết là phải có một môi trường thể chế thật sự kiến tạo, minh bạch, ổn định và thuận lợi cho sự phát triển của khu vực này.

Để kinh tế tư nhân đóng góp 70% GDP vào năm 2030, theo tôi, cần chú trọng ba vấn đề căn bản. Đó là xóa bỏ các rào cản thể chế kìm hãm sự lớn mạnh của doanh nghiệp tư nhân như bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, chính sách “hai mặt” giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, hay tình trạng can thiệp hành chính tùy tiện. Tạo động lực mạnh mẽ cho đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ, thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu, khuyến khích chuyển đổi số, xây dựng các quỹ đầu tư mạo hiểm, và đặc biệt là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ một cách nghiêm túc. Đồng thời, bảo đảm sự an toàn pháp lý và tài sản cho doanh nghiệp, để doanh nhân dám nghĩ lớn, làm lớn và đầu tư dài hạn. Khi họ không còn lo ngại về những rủi ro “phi thị trường”, thì năng lực cạnh tranh toàn cầu mới có thể nảy nở.

Để hiện thực hóa kỳ vọng đòi hỏi một cuộc chuyển đổi thể chế mạnh mẽ và đồng bộ, trong đó Nhà nước thật sự là “bà đỡ” cho kinh tế tư nhân phát triển, đổi mới và hội nhập. Khi kinh tế tư nhân cất cánh, Việt Nam hoàn toàn có thể hiện diện trên bản đồ thế giới như một quốc gia phát triển dựa trên năng lực nội sinh và khát vọng vươn lên của chính người dân mình.

Có thể bạn quan tâm

Mặt bằng nhỏ, xu thế lớn

Những mặt bằng có diện tích lớn, nằm ở vị trí đắc địa thường có lợi thế trong kinh doanh bán lẻ, dịch vụ, kinh doanh ăn uống (F&B), nhưng hiện nay không còn ở vị trí độc tôn. Các cửa hàng nhỏ đang chứng tỏ nhiều lợi thế trong việc tiếp cận khách hàng cũng như định hình xu thế kinh doanh mới.

Niềm tin của nhà đầu tư được củng cố bằng chuyển biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào vài phiên thanh khoản tăng mạnh. Ảnh: NAM ANH

Phía sau dòng tiền “giải cứu” giá cổ phiếu

Những pha “giải cứu” giá cổ phiếu sau chuỗi ngày giảm mạnh có thể mở lối ra cho người bán và tạo kỳ vọng cho người mua. Nhưng để cổ phiếu phục hồi bền vững, doanh nghiệp còn phải giải quyết những vấn đề về dòng tiền, lợi nhuận và niềm tin thị trường.

Thử nghiệm vận chuyển nông sản bằng UAV tại Điện Biên.

Khi bầu trời trở thành thị trường

Một chuyến drone mang 50kg cà-phê rời vùng nguyên liệu Mường Ảng (tỉnh Điện Biên). Đó là một trong những thử nghiệm đang diễn ra để trả lời một câu hỏi lớn hơn về không gian kinh tế mới của Việt Nam.

Tiêu dùng cuối của hộ gia đình có xu hướng cải thiện, đóng vai trò ổn định tổng cầu. Ảnh: NAM HẢI

Gom lực cho nhịp tăng trưởng cuối năm

Kinh tế Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng cho chặng đường cuối năm. Việc phát huy các động lực hiện hữu, thúc đẩy động lực mới và khơi thông nguồn lực được kỳ vọng tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.

Cần nghiên cứu phương án tiếp tục bổ sung nguồn lực cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. Ảnh: ANH QUÂN

Kìm hãm đà tăng giá xăng dầu

Giá xăng dầu trong nước tăng liên tiếp, lên mức cao nhất sáu tháng, đang tạo sức ép lên chi phí vận tải, sản xuất và giá hàng hóa. Trong khi dư địa giảm thuế và Quỹ Bình ổn giá hạn chế, bài toán kìm hãm đà tăng giá trở nên cấp thiết.

Sầu riêng tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của xuất khẩu rau quả. Ảnh: NGUYỆT ANH

Ngành rau quả hướng tới cột mốc mới

Từ đà tăng trưởng của các nhóm hàng chủ lực, sự mở rộng của thị trường và nguồn cung thuận lợi trong những tháng cuối năm, ngành rau quả đang đứng trước cơ hội bứt phá, hướng tới một cột mốc mới về kim ngạch xuất khẩu.

Sản phẩm UAV của doanh nghiệp Việt được giới thiệu tại triển lãm công nghệ. Ảnh: HẢI NAM

Đổi mới sáng tạo và khoảng cách từ xuất khẩu đến sở hữu

Việt Nam đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao, nhưng chỉ đứng thứ 110 về thu nhập từ sở hữu trí tuệ. Một nghịch lý nổi lên khi chúng ta mạnh về sản xuất và xuất khẩu, nhưng còn yếu về khả năng tạo ra và thu giá trị từ tài sản trí tuệ.

Nhiều ngân hàng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC. Ảnh: NAM ANH

Cuộc đua mới tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam của MSB và nhiều ngân hàng khác đang mở ra khả năng xuất hiện thêm các ngân hàng mới. Xu hướng này đi đến đâu còn phụ thuộc điều kiện cấp phép, năng lực tài chính và khả năng thu hút khách hàng của từng ngân hàng.

Nhà đầu tư đang nghĩ gì?

Việc thị trường chứng khoán (TTCK) chưa khởi sắc đang khiến các nhà đầu tư (NĐT) có những suy nghĩ, hành động khác nhau.

Định hình công nghiệp biểu diễn

Đảng và Nhà nước đang chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, nên việc chuyên môn hóa, hay công nghiệp hóa từng lĩnh vực trong đó là xu thế tất yếu. Công nghiệp biểu diễn trong thời gian qua đã cho thấy nhiều tín hiệu tích cực.

Giá trị trái phiếu phát hành của ngành bất động sản tăng đáng kể trong quý II. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng dư địa vốn từ trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Bước vào chu kỳ phát triển mới, thị trường cần tăng minh bạch, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm, mở rộng nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro để phát triển bền vững.

Các hoạt động xúc tiến thương mại giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường. Ảnh: NGUYỆT ANH

Gỡ điểm nghẽn, mở đường cho doanh nghiệp

Cả nước hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp hơn 60% GDP, tạo việc làm cho hơn 17,6 triệu lao động và chiếm khoảng 55% tổng thu ngân sách. Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng ngày càng cao, khu vực doanh nghiệp tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế.

Mã QR giúp du khách thuận tiện trong mua sắm. Ảnh: NAM HẢI

Thuận dòng chi tiêu của du khách

Dòng khách quốc tế gia tăng kéo theo nhu cầu thanh toán thuận tiện tại các điểm đến. Thanh toán QR xuyên biên giới đang mở rộng, giúp du khách sử dụng phương thức quen thuộc để chi tiêu tại Việt Nam.

Ngoài nguồn vốn, đối tác quốc tế có thể mang đến kinh nghiệm về công nghệ, quản trị và kiểm soát rủi ro...

Vốn nước ngoài chờ “cửa” vào ngân hàng Việt

Từ cuộc đàm phán tăng sở hữu tại VPBank đến kế hoạch bán vốn của nhiều ngân hàng, dòng vốn nước ngoài đang chờ những thỏa thuận đủ hấp dẫn để đi xa hơn vào thị trường Việt Nam. Nhưng những thương vụ được chờ đợi vẫn phải vượt qua câu hỏi khó nhất: Mức giá nào đủ để cả bên mua lẫn bên bán “gật đầu”?

Một góc trang trại của Tập đoàn Y dược Sâm Ngọc Linh.

Cuộc đua giành một biểu tượng

Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản mang về hàng tỷ USD mỗi năm. Nhưng trong khi thế giới cạnh tranh bằng chip hay trí tuệ nhân tạo, một cuộc đua khác cũng âm thầm diễn ra. Đó là cuộc đua giành quyền sở hữu những cái tên không thể sao chép.

Lãi suất ưu đãi vay mua nhà tại 17 ngân hàng hiện dao động từ 7-13,2%/năm. Ảnh: NAM HẢI

Ngân hàng cũng “mắc kẹt” với lãi vay

Lãi cho vay tăng chưa đồng nghĩa ngân hàng hưởng chênh lệch lớn hơn. Lợi nhuận cao cũng chưa đủ để kết luận còn nhiều dư địa giảm lãi suất. Khả năng chia sẻ chi phí với người vay phụ thuộc vào giá vốn huy động, cơ cấu nguồn thu và rủi ro tín dụng của từng ngân hàng.

Bất ngờ “cổ dầu”

“Cổ dầu” là cách gọi của một số nhà đầu tư (NĐT) dành cho nhóm cổ phiếu (CP) ngành dầu khí. Trong khoảng hai tháng qua, đây là nhóm CP có suất sinh lời cao bậc nhất thị trường chứng khoán (TTCK).

Động lực tăng trưởng nhìn từ âm nhạc truyền thống

Các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống, trong đó có âm nhạc, luôn đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bảo tồn, phát triển văn hóa, mà còn góp phần tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế, xây dựng thương hiệu cho quốc gia và địa phương.

Nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục, ưu tiên doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng bền vững. Ảnh: NAM ANH

Nâng hạng chứng khoán và bài toán mua theo kỳ vọng

Nâng hạng thị trường chứng khoán mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế, nhưng không bảo đảm lợi nhuận cho từng khoản đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, điều cần làm rõ không chỉ là quỹ nước ngoài mua cổ phiếu nào, mà còn là giá mua và cơ sở để tiếp tục nắm giữ.

Tín dụng tam nông qua các thời kỳ đổi mới

Tín dụng tam nông qua các thời kỳ đổi mới

Đồng hành với quá trình đổi mới kinh tế nông thôn, dòng vốn tín dụng đóng vai trò làm “bà đỡ” giúp ngành nông nghiệp chuyển mình từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và hội nhập quốc tế.

 Tính đến ngày 31/5/2026, Ngân hàng chính sách xã hội đã giải ngân 32.059 tỷ đồng cho 69.204 khách hàng vay vốn.

Nhà chờ người mua, người mua chờ vốn

Trúng quyền mua nhà ở xã hội (NOXH) nhưng chưa thể vay vốn ưu đãi, nhiều gia đình đang lo ngại phải trả lại suất mua. Khi lịch thanh toán đã xác định mà thời điểm giải ngân còn bỏ ngỏ, vấn đề đặt ra là làm sao gắn tiến độ phát triển nhà ở với kế hoạch tín dụng.

Tài sản trí tuệ - Một trong những nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp. Ảnh: NAM NGUYỄN

Định giá để tạo lập thị trường tài sản trí tuệ

Việt Nam đã có hàng chục nghìn văn bằng sở hữu trí tuệ, nhưng phần lớn vẫn nằm trên giá hồ sơ hoặc trong sổ sách của các viện, trường. Khi Chính phủ đặt mục tiêu thí điểm định giá 100 quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), thách thức nằm ở việc tạo ra cơ chế để tài sản vô hình thật sự bước vào thị trường.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Khởi đầu mới cho mối quan hệ cũ

Những năm gần đây, một số yếu tố đã đưa các quỹ đầu tư và công ty chứng khoán (CTCK) xích lại gần nhau hơn, hứa hẹn một thời kỳ “mặn nồng”.

Thách thức với bán lẻ đa trải nghiệm

Chỉ mới tháng 4 năm ngoái, hệ thống bán lẻ đa trải nghiệm Oh!Some xuất hiện tại Việt Nam với nhiều kỳ vọng. Nhưng chỉ sau hơn một năm hoạt động, những ngày gần đây đã xuất hiện thông tin về việc Oh!Some đóng một loạt cửa hàng đặt tại các trung tâm thương mại (TTTM) lớn.

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.