Bảo vệ cổ vật chùa Bổ Đà: Cần hài hòa giữa tín ngưỡng và an ninh trật tự

NDĐT - Chùa Bổ Đà ra đời từ thế kỷ XI (thời Lê), trải qua các thời Lê Trung hưng - niên hiệu Bảo Thái (1720-1729) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Bổ Đà là một trong những trung tâm Phật giáo lớn thuộc thiền phái Lâm Tế, một trong những ngôi chùa độc đáo cổ kính và lớn nhất vùng đất Kinh Bắc. Bổ Đà cũng là nơi lưu giữ nhiều di vật rất quan trọng. Bộ bản khắc kinh Phật đã được công nhận là bảo vật quốc gia, vườn tháp và nhiều kiến trúc của chùa đều đòi hỏi được bảo vệ và giữ gìn cẩn trọng.

Ông Nguyễn Đại Lượng cùng Thượng toạ Thích Túc Hòa, người từ nhỏ từng tu hành tại chùa tổ Bổ Đà giới thiệu về kho ván kinh.
Ông Nguyễn Đại Lượng cùng Thượng toạ Thích Túc Hòa, người từ nhỏ từng tu hành tại chùa tổ Bổ Đà giới thiệu về kho ván kinh.

Dưới đây là trao đổi của chúng tôi với ông Nguyễn Đại Lượng, Phó Chủ tịch UBND huyện Việt Yên, Bắc Giang, phụ trách mảng văn hóa về các vấn đề xung quanh chuyện bảo vệ cổ vật của chùa Bổ Đà cũng như bảo vật nói chung.

Theo số liệu thống kê của Công an tỉnh Bắc Giang, từ năm 2003 đến nay, trên địa bàn Bắc Giang xảy ra gần 50 vụ xâm hại, trộm cắp di vật, cổ vật, kẻ gian lấy đi hơn 200 di vật, cổ vật các loại. Cho tới nay, hầu hết các vụ mất cắp này đều chưa tìm ra thủ phạm. Tại chùa Bổ Đà, năm 2009 kẻ gian lấy mất sáu pho tượng phật. Đầu năm 2016, kẻ trộm đã đột nhập lấy đi một chiếc chóe cổ và bốn lộc bình. Năm 2017 chùa Bổ Đà lại bị đánh cắp mất pho tượng Quan âm Tổng tử bằng gỗ có niên đại hơn 200 năm. “Đối với kho mộc bản (bảo vật quốc gia) hiện nay hằng đêm, cơ quan công an đều cử người đến giúp nhà chùa canh giữ, song nhà chùa vẫn rất lo lắng đối với việc bảo vệ cổ vật ở đây”, Trụ trì chùa Bổ Đà, thượng tọa Thích Túc Vinh cho biết khi được hỏi về cách bảo vệ cổ vật tại chùa Bổ Đà.

Phóng viên: Bảo vệ cổ vật là vấn đề khá đau đầu với nhiều địa phương, các cơ quan quản lý, thậm chí vấn đề chung được đặt ra là câu chuyện bảo vệ còn khá lỏng lẻo. Vậy công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của chùa Bổ Đà đang được địa phương thực hiện như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Đại Lượng: Năm 2016, chùa Bổ Đà đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt, vì đây là ngôi chùa chứa rất nhiều ý nghĩa lịch sử và văn hóa. Năm 2018, UBND tỉnh Bắc Giang đã chủ trì phối hợp với cơ quan chuyên môn xây dựng đề án tổng thể di tích. Đây là chốn tổ của thiền phái Lâm Tế, là trường phái phật giáo lớn nhất ở Việt Nam. Ngôi chùa có bộ mộc bản kinh phật khắc trên gỗ thị cổ nhất thế giới, vừa qua đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật Quốc gia. Ngôi chùa có nhiều nét kiến trúc độc đáo được bảo tồn gìn giữ từ mấy trăm năm nay. Vườn tháp trong khuôn viên chùa là nơi yên nghỉ của hàng nghìn nhà sư đã tu hành trong thiền phái cũng được xếp hạng lớn và đẹp nhất Việt Nam. Một số cây lâu năm như cây đa hơn 300 năm tuổi hoặc cây vối do các thiền sư trồng cũng đã được công nhận là cây di sản. Chúng tôi xác định, công tác bảo vệ, bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản là rất quan trọng và được thực hiện cẩn trọng và bài bản trong nhiều năm qua.

Phóng viên: Được biết mới đây nhà chùa đã cho xây tam quan và cổng bảo vệ, song việc triển khai đã không hoàn toàn đúng theo cấp phép của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Hiện nay công việc trên đã được giải quyết như thế nào?

Ông Nguyễn Đại Lượng: Việc xây dựng tam quan và cổng chùa thì theo các bậc tiền tổ, đây là di nguyện của thế hệ trước ngay từ khi xây dựng chùa. Khu tùng lâm tứ yên tự này được xây trong nhiều trăm năm; cũng không phải xây dựng một lần trong một vài năm. Riêng hạng mục về tam quan và cổng chùa thì trong những năm đầu của thế kỷ 20 các nhà sư đã vận chuyển gỗ về để xây dựng. Tuy nhiên, trong khi vận chuyển về đến sông Cầu thì bị va vào đá và vỡ bè, một phần được kéo xuống để xây dựng chùa Đáp Cầu, cùng Sơn môn. Một phần lớn gỗ đó trôi xuống Lục đầu giang, trôi theo sông Kinh Thầy, các nhà sư níu bè, vớt lên xây dựng cổng tam quan của chùa Yên Ninh thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương. Trong những năm vừa qua, nhân dân ủng hộ và sự đóng góp của các nhà sư toàn sơn môn, các thầy chùa Bổ Đà đề xuất xây dựng cổng Tam quan. Tuy nhiên có một trục trặc là trong quá trình hoàn thiện hồ sơ còn thiếu chặt chẽ dẫn tới việc xây dựng cổng chưa hoàn toàn đúng so với hồ sơ cấp phép của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Riêng cổng chùa thì do một phần nhận thức của các thầy ở chùa cũng như cán bộ địa phương dẫn tới những vi phạm về việc quản lý di tích. Thời gian vừa qua tỉnh đã chỉ đạo địa phương và cùng với nhà chùa đã thực hiện việc hạ giải cổng chùa đó (“hạ giải” tức là giải phóng, phá bỏ, hủy việc xây dựng tam quan không đúng cách thức cần thiết cho di sản cổ kính có giá trị bậc nhất của vùng Kinh Bắc này - PV).

Phóng viên: Dư luận nhân dân tại huyện Việt Yên, xã Tiên Sơn (Bắc Giang) dường như mong muốn sớm có giải pháp phù hợp cho việc xây dựng cổng bảo vệ của ngôi chùa có nhiều giá trị độc đáo và cổ kính bậc nhất ở vùng Kinh Bắc. Việc xây dựng sẽ tăng cường cho công tác an ninh và bảo vệ bởi trên thực tế đã xảy ra tình trạng mất cắp cổ vật. Quan điểm của ông thế nào về việc trên?

Ông Nguyễn Đại Lượng: Chùa Bổ Đà là ngôi chùa tổ đình, ngày xưa chủ yếu dành cho nơi tu tập kết hạ của các tăng ni sơn môn vào những tháng hè. Hiện nay chùa đã mở rộng cho du khách vào thăm, đặc biệt hằng năm, lượng khách về dự lễ chùa rất đông. Trong ba năm gần đây, bình quân mỗi năm có từ 300 đến 500 nghìn người đến thăm chùa. Với quy mô cổng chùa như ngày xưa sẽ không đáp ứng được việc thăm quan, đồng thời ảnh hưởng rất lớn đến an ninh trật tự. Góc độ địa phương, chúng tôi mong muốn rằng, cổng Tam quan là nơi rất có ý nghĩa đối với các ngôi chùa nói chung, chùa Bổ Đà nói riêng, mong muốn được giữ gìn Tam quan như là các thầy ở Sơn môn đã xây dựng. Việc xây dựng cổng chùa đúng cách thức cũng rất có ý nghĩa trong việc bảo đảm an ninh trật tự. Với các yếu tố nói trên, chúng tôi mong muốn được chính phủ, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho phép để các thầy chùa thực hiện Tam quan, cổng một cách phù hợp vừa là theo di nguyện của các bậc tiền tổ và cũng góp phần vào việc phát huy giá trị của di sản.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Bảo vệ cổ vật chùa Bổ Đà: Cần hài hòa giữa tín ngưỡng và an ninh trật tự ảnh 1

Đường vào cổng trung tâm chùa Bổ Đà, nơi lưu giữ bộ ván kinh Phật cổ nhất Việt Nam, mộc bản còn nguyên vẹn với gần 2.000 bản khắc.

Chùa Bổ Đà với các bản khắc gỗ dùng để in ấn kinh sách ngày nay còn lưu lại bao gồm gần 2000 bản thuộc các bộ kinh luật Đại thừa, như: Lăng nghiêm chính mạch, Yết ma hội bản, Nam hải ký quy... để phục vụ cho việc đào tạo truyền bá kinh Phật. Bộ bản khắc này đã được công nhận là bảo vật quốc gia và là bộ bản khắc gỗ kinh Phật có niên đại lâu đời nhất ở Việt Nam. Vườn tháp trong khuôn viên chùa với hàng trăm ngôi tháp cổ chứa xá lị, tro cốt nhục thân của hàng nghìn vị tăng, ni thuộc thiền phái Lâm Tế với diện tích gần 8000 m2 cũng là vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam. Vườn tháp chùa Bổ Đà được xây dựng trong khoảng 300 năm, kể từ khi sư tổ có tên tục là Phạm Kim Hưng viên tịch. Đặc biệt, có ngôi tháp an táng tới 26 nhà sư, đây là những nhà sư là anh em cùng Sơn môn, cùng tu một thầy, khi sống gắn bó với nhau nên khi qua đời vẫn muốn được nằm cạnh nhau.

Có thể bạn quan tâm

Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Thành phố Hà Nội nhấn nút khai mạc Festival Thăng Long-Hà Nội lần thứ II, năm 2026.

Khai mạc Festival Thăng Long-Hà Nội năm 2026

Tối 11/9, tại di tích Hoàng thành Thăng Long (phường Ba Đình), Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức lễ khai mạc chương trình Festival Thăng Long-Hà Nội lần thứ hai năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản-Heritage Flow”. Dự chương trình có đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ.

Chiếc trống và biểu tượng bất khuất của các chiến sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh trưng bày tại Bảo tàng Nghệ An-Xô viết Nghệ Tĩnh. (Ảnh: TRUNG HIẾU)

Sáng mãi danh hiệu “đỏ”

96 năm đã trôi qua, tinh thần và hào khí Xô viết Nghệ Tĩnh vẫn trường tồn cùng lịch sử dân tộc. Trên quê hương Xô viết anh hùng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh đang tiếp nối truyền thống cách mạng, chuyển hóa thành động lực phát triển, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với danh hiệu “đỏ”.

Các đại biểu chủ trì hội thảo. (Ảnh: HỒNG NGỌC)

Nhận diện bản sắc, tìm hướng phát triển cải lương nam-bắc

Ngày 11/9, tại Hà Nội, Nhà hát Sân khấu truyền thống quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức Hội thảo khoa học cấp bộ: “Sự khác biệt của cải lương nam-bắc: thành tựu, hạn chế, những vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển”, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ sân khấu.

Các đại biểu trải nghiệm cùng hiện vật đặc biệt - chiếc máy khâu - hiện vật gắn bó với nhiều gia đình Hà Nội một thời.

“Kể chuyện” Hà Nội qua vẻ đẹp áo dài

Tà áo dài luôn gắn với nét thanh lịch của người Hà Nội. Nhưng không phải ai cũng hiểu quá trình phát triển của áo dài. Với trưng bày “Nét Hà thành-Câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài”, Trung tâm Hoạt động văn hóa, khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã dẫn dắt người xem khám phá vẻ đẹp của áo dài, của phụ nữ Hà thành qua năm tháng.

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam trao đổi với báo chí tại một sự kiện ở Hà Nội. (Ảnh: KIỀU GIANG)

Khẳng định vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững

Nhân dịp Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua nghị quyết về Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì phát triển bền vững, ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam đã gửi thông điệp nhằm khẳng định vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững và đóng góp của Việt Nam đối với chương trình nghị sự văn hóa toàn cầu.

Người dân tham gia các hoạt động trải nghiệm tại Nhà văn hóa số trên địa bàn xã Đông Anh. (Ảnh GIANG NAM)

Nâng cao mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân

Việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trên địa bàn Hà Nội đang tạo ra sự đổi thay mạnh mẽ cho các nhà văn hóa. Những mô hình hoạt động mới, những cách làm sáng tạo được triển khai khiến nhà văn hóa trở thành “ngôi nhà chung” giúp nâng cao mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân.

Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình (bên phải) chỉ đạo diễn xuất. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Phim cổ trang Việt và thử thách chinh phục khán giả

Với quy mô, đầu tư về bối cảnh, phục trang, mỹ thuật và võ thuật, “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” cho thấy điện ảnh Việt đã có thêm những bước tiến trong việc đưa chất liệu lịch sử, huyền sử lên màn ảnh rộng.

Chỉ ít ngày sau khi phát hành trên nền tảng Amazon, bản tiếng Anh “Khúc lãng du Cụ Mén” tiếp tục có mặt tại Canberra, Australia và là món quà tặng văn hóa nhiều ý nghĩa với các đại biểu tham dự hội thảo về Việt Nam. (Ảnh: QUỐC HẢI)

“Khúc lãng du Cụ Mén” rời cánh đồng làng bước ra thế giới

Mang theo ký ức ruộng đồng và cốt cách người nông dân Việt Nam, nhân vật trong tập thơ “Khúc lãng du Cụ Mén” của Phạm Hồng Điệp đã bước ra thế giới, gặp gỡ với những bạn đọc quốc tế khi hiện diện và bất ngờ chiếm tốp đầu trên nền tảng Amazon và trở thành món quà ý nghĩa tại một số hội thảo về Việt Nam ở Australia vừa qua.

“Những ngày Sài Gòn” được làm mới bằng một MV hiện đại, mở rộng khả năng tiếp cận công chúng trẻ. (Ảnh: Ê-KÍP CUNG CẤP)

“Những ngày Sài Gòn” - Hành trình từ thơ tới MV

Từ một ca khúc phổ thơ đã được giới thiệu trên sân khấu, nhạc sĩ Hoài An và giám đốc sản xuất Võ Hoài Phúc vừa tiếp tục làm mới “Những ngày Sài Gòn” bằng một MV hiện đại, kết hợp cách xử lý âm nhạc mới với ngôn ngữ hình ảnh giàu chất điện ảnh để mở rộng khả năng tiếp cận, đưa tác phẩm đến gần hơn với công chúng trẻ.

Quang cảnh buổi họp. (Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Gấp rút hoàn thiện Đề án đưa di sản Việt Nam ở nước ngoài về nước

Ngày 10/9, tại Hà Nội, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương chủ trì buổi làm việc của Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập xây dựng Đề án đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa của Việt Nam đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước.