AI mở rộng cơ hội cho người khuyết tật

Bài 2: Thu hẹp khoảng cách số, trao khả năng tiếp cận công nghệ

AI đang mở ra nhiều cơ hội hòa nhập cho người khuyết tật. Tuy nhiên, khoảng cách về kỹ năng số, thiết bị và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn là rào cản lớn với nhiều người. Nếu thiếu tính bao trùm, AI không chỉ tạo ra cơ hội mới mà còn có thể làm gia tăng bất bình đẳng trong xã hội số.

Lớp học sử dụng AI tại Hội Người mù Mỹ Đức (Hà Nội).
Lớp học sử dụng AI tại Hội Người mù Mỹ Đức (Hà Nội).

Khoảng cách số vẫn hiện hữu

Theo đánh giá do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) hỗ trợ, AI có thể hỗ trợ rà soát lỗi trợ năng, hướng dẫn người dùng thực hiện thủ tục hành chính bằng giọng nói hoặc ngôn ngữ đơn giản hơn. Tuy nhiên, khoảng cách số giữa người khuyết tật ở thành thị và nông thôn vẫn khá lớn.

Nhiều người chưa có điều kiện sở hữu thiết bị hỗ trợ do chi phí còn vượt quá khả năng tài chính. Tại một số vùng sâu, vùng xa, hạ tầng công nghệ thông tin và chất lượng đường truyền internet chưa ổn định cũng gây khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ số.

Chị Đào Thu Hương, Cán bộ Hòa nhập Người khuyết tật của UNDP cho biết: “Việt Nam đã cải thiện mạnh về Chính phủ điện tử, tuy nhiên một số cổng dịch vụ công trực tuyến vẫn chưa thật sự thân thiện với người khuyết tật. Một trong những rào cản là hệ thống CAPTCHA khó tiếp cận, điều hướng không có cấu trúc, giao diện không nhất quán và chức năng tương tác bằng bàn phím hạn chế”.

Việt Nam đã cải thiện mạnh về Chính phủ điện tử, tuy nhiên một số cổng dịch vụ công trực tuyến vẫn chưa thật sự thân thiện với người khuyết tật. Một trong những rào cản là hệ thống CAPTCHA khó tiếp cận, điều hướng không có cấu trúc, giao diện không nhất quán và chức năng tương tác bằng bàn phím hạn chế.

Chị Đào Thu Hương, Cán bộ Hòa nhập Người khuyết tật của UNDP

Báo cáo Phát triển Con người của UNDP cũng chỉ ra rằng, khả năng AI giúp thu hẹp khoảng cách xã hội sẽ phụ thuộc vào mức độ tiếp cận, khả năng chi trả và sự tham gia của người khuyết tật trong quá trình thiết kế, phát triển công nghệ. AI cần đóng vai trò hỗ trợ con người thay vì thay thế hoàn toàn sự hỗ trợ của con người.

Trong khi đó, khảo sát của Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững cho thấy, khoảng một nửa số người khuyết tật sử dụng internet hiện chưa biết cách dùng các công cụ AI. Có tới 65% người khuyết tật sử dụng thiết bị trợ năng chưa từng được đào tạo kỹ năng số.

Mỗi dạng khuyết tật như: Thị giác, thính giác, trí tuệ hay vận động đều cần các giải pháp công nghệ khác nhau theo hướng cá nhân hóa và dễ tiếp cận hơn. Không chỉ dịch vụ công, tài chính số cũng chưa thật sự thuận tiện với người khuyết tật, không ít người vẫn phải phụ thuộc người thân trong giao dịch tài chính.

Đại diện Hội Người mù Việt Nam cho rằng, khoảng cách tiếp cận công nghệ ở nhóm người khiếm thị vẫn còn khá lớn. Nhiều website, ứng dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử hiện nay chưa thật sự thân thiện với người khiếm thị.

Tháng 4/2026, Hội Người mù Việt Nam đã phối hợp tổ chức khóa tập huấn hướng dẫn sử dụng ngân hàng số và bảo mật thông tin cho người khiếm thị. Từ thực tế triển khai, nhiều ý kiến cho rằng, các nền tảng số cần được thiết kế theo hướng dễ tiếp cận hơn, có sự tham gia góp ý của chính người khuyết tật ngay từ đầu.

Để phát triển các ứng dụng thân thiện với người khuyết tật, các doanh nghiệp công nghệ cần thay đổi tư duy ngay từ khâu thiết kế, coi người khuyết tật là một nhóm người dùng cốt lõi.

Ông Nguyễn Minh Đức, Founder & CEO Công ty cổ phần An toàn thông tin CyRadar nhấn mạnh: “Quá trình xây dựng phần mềm cần có sự tham gia tham vấn và thử nghiệm từ chính cộng đồng người khuyết tật; phải thật sự trao quyền để người khuyết tật tự chủ và tham gia bình đẳng trong xã hội số”.

Chủ tịch Hội Người khuyết tật Thành phố Hà Nội Đỗ Thị Huyền chia sẻ, thách thức của người khuyết tật hiện nay nằm ở việc làm, tiếp cận hạ tầng, khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ. Hội đã chuyển hướng từ “xóa mù chữ” sang “xóa mù công nghệ” nhằm nâng cao năng lực số cho hội viên.

Các khóa học kỹ năng số, ứng dụng AI trong học tập, làm việc và truyền thông đã giúp nhiều người khuyết tật lần đầu tiếp cận thế giới số. Cuối năm 2024, một khóa tập huấn ứng dụng AI trong truyền thông đã hỗ trợ hơn 40 hội viên sử dụng AI như một “trợ lý” trong soạn thảo văn bản và tìm kiếm thông tin.

Không chỉ dừng ở đào tạo kỹ năng số, Hội Người khuyết tật Thành phố Hà Nội còn số hóa gần 600 điểm dữ liệu, ứng dụng GPS để hỗ trợ cảnh báo sớm, sơ tán và cứu trợ người khuyết tật trong thiên tai.

Đáng chú ý, chính người khuyết tật tham gia thu thập dữ liệu và xây dựng bản đồ số, qua đó khẳng định vai trò chủ động của họ trong các giải pháp công nghệ vì cộng đồng. Mô hình này đã được vinh danh tại Zero Project 2026 của Liên hợp quốc nhờ tính nhân văn và khả năng nhân rộng.

Hoàn thiện khung năng lực số phù hợp

Quỹ phát triển dành cho người khuyết tật Abilis Phần Lan gần đây đã hỗ trợ Việt Nam triển khai nhiều dự án nâng cao năng lực số cho người khuyết tật. Các hoạt động tập trung vào kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, an toàn mạng và ứng dụng công nghệ trong học tập, làm việc.

Nguyễn Phương Anh, người khiếm thị đồng thời là cán bộ dự án của Quỹ Abilis cho biết: “Nhiều chương trình đã hướng dẫn người khuyết tật sử dụng AI để nhận diện hình ảnh, hỗ trợ di chuyển và sáng tạo nội dung. Tiêu biểu có dự án “Hành chính công trực tuyến cho người khuyết tật” do Mạng lưới sinh viên khiếm thị Việt Nam triển khai giai đoạn 2023-2024 cùng các khóa đào tạo kỹ năng số cho người khiếm thị tại Tây Hồ, Mỹ Đức, Sóc Sơn (Hà Nội) trong các năm 2025-2026, góp phần thu hẹp khoảng cách số và mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ”.

UNDP cũng hỗ trợ các nhóm chuyển đổi số cộng đồng giúp các nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và công cụ số, đồng thời thúc đẩy các mô hình đồng sáng tạo với sự tham gia trực tiếp của người khuyết tật trong thiết kế, thử nghiệm nền tảng số.

Theo bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, khả năng tiếp cận, thiết kế phổ quát cần trở thành tiêu chuẩn bắt buộc trong các dịch vụ công trực tuyến và hệ thống AI.

Để người khuyết tật thật sự trở thành chủ thể trong xã hội số, cần một chiến lược dài hạn và khung pháp lý chuyển đổi số bao trùm. Tiến sĩ Tô Văn Trường cho rằng, các chương trình hỗ trợ phải gắn chặt với giáo dục, việc làm và an sinh xã hội.

Một nền AI nhân văn cần bảo đảm tính tiếp cận cho mọi đối tượng, từ giao diện dễ sử dụng đến khả năng đáp ứng đa dạng nhu cầu, đặc biệt phải đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi quá trình thiết kế và ứng dụng công nghệ.

Chỉ khi lắng nghe tiếng nói từ chính những người sử dụng, AI mới thật sự trở thành công cụ phục vụ con người một cách công bằng và hiệu quả. Cần thay đổi tư duy “làm cho người khuyết tật” sang tư duy “làm cùng người khuyết tật”.

Công nghệ có thể xóa bỏ rào cản, định kiến về người khuyết tật, nhưng chính sách phát triển AI phải đặt người khuyết tật ở vị trí trung tâm, được tham gia vào quá trình thiết kế, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội để xây dựng hệ sinh thái số an toàn, thân thiện và mở rộng cơ hội cho người khuyết tật.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thái, nguyên Cục phó Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an

Việc phát triển AI cần bảo đảm an toàn, đạo đức và hướng tới các giá trị nhân văn, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thái, nguyên Cục phó Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an khẳng định, công nghệ có thể xóa bỏ rào cản, định kiến về người khuyết tật, nhưng chính sách phát triển AI phải đặt người khuyết tật ở vị trí trung tâm, được tham gia vào quá trình thiết kế, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội để xây dựng hệ sinh thái số an toàn, thân thiện và mở rộng cơ hội cho người khuyết tật.

(Tiếp theo và hết)

Có thể bạn quan tâm

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã có buổi làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị.

Thúc đẩy những định hướng hợp tác chiến lược về khoa học, công nghệ đi vào thực tiễn

Làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, đào tạo nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đều là những vấn đề Việt Nam ưu tiên và mong muốn Singapore chia sẻ kinh nghiệm.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trên hệ thống thiết bị đo kiểm phục vụ đào tạo, nghiên cứu IoT và bán dẫn. (Ảnh: VNU)

Làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh

Hành lang chính sách cho phát triển công nghệ chiến lược đang từng bước được hoàn thiện, cùng với cơ chế đặt hàng, tài trợ, thử nghiệm và hỗ trợ doanh nghiệp. Vấn đề hiện nay là đưa các cơ chế đó vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Các diễn giả tham dự hội thảo “Chuyển đổi số trong khu vực công: Kiến tạo hạ tầng bền vững và bảo đảm an ninh dữ liệu hướng đến mục tiêu tăng trưởng quốc gia”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chuyển đổi số khu vực công: Làm chủ dữ liệu, kiến tạo hạ tầng bền vững

Chuyển đổi số khu vực công đang chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu. Cùng với hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ và mở rộng, bảo đảm an ninh dữ liệu và năng lực phục hồi sau sự cố đang trở thành những điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực tăng trưởng.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Kết nối chuyên gia trí tuệ nhân tạo toàn cầu để giải bài toán Việt Nam

Mạng lưới chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI) Việt Nam toàn cầu được hình thành không chỉ để tập hợp trí thức người Việt trong và ngoài nước, mà còn mở ra cơ chế để các chuyên gia trực tiếp tham gia giải quyết những bài toán cụ thể, phát triển sản phẩm trí tuệ nhân tạo có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước.

Tọa đàm “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường Khoa học và Nhân văn tổ chức.

Hệ sinh thái hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ

Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn vừa tổ chức kỳ vọng cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ. (Ảnh: DUY LINH)

Luật sửa đổi 4 luật lĩnh vực khoa học-công nghệ: Cắt giảm điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp

Luật tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, kinh tế gắn với quốc phòng-an ninh.

Ảnh thiết kế có yếu tố AI.

Tăng tốc chặng đường cuối, hướng tới chấm dứt nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026

Từ hơn 4.000 cá thể gấu nuôi nhốt năm 2005, đến nay cả nước còn 206 cá thể, phần lớn trong đó bị nuôi nhốt hơn 20 năm, sức khỏe suy giảm và cần được đưa đến các cơ sở cứu hộ. Việc hoàn thành mục tiêu chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026 đang bước vào chặng đường cuối, nhưng cũng là giai đoạn nhiều thách thức.

Tổ lưu động thu thập thông tin về đất đai. (Ảnh: CÔNG VINH)

Tạo giá trị cho nền kinh tế số từ dữ liệu địa điểm

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của dữ liệu, với hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện và nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia được hình thành. Tuy nhiên, việc có nhiều dữ liệu không đồng nghĩa với có nền kinh tế dữ liệu. 

Các giải pháp công nghệ cho ô-tô điện được trưng bày tại Triển lãm Thành tựu đất nước "80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc". (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Bộ Chính trị sửa đổi chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 215-QĐ/TW, ngày 18/8/2026 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 230-QĐ/TW, ngày 10/1/2025 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Toàn cảnh lễ khai mạc Trường hè IACR-VIASM về Mật mã năm 2026.

Thúc đẩy nghiên cứu học thuật mật mã giữa Việt Nam với quốc tế

Trường hè IACR-VIASM năm 2026 là hoạt động thúc đẩy nghiên cứu mật mã mang tầm quốc tế tiếp nối chuỗi hoạt động mật mã quốc tế đã được tổ chức tại Việt Nam, gồm: VietCrypt 2006, IACR ASIACRYPT 2016, Trường hè IACR-SEAMS 2016, Trường hè IACR-VIASM 2022 và ACM ASIACCS 2025 với diễn đàn vệ tinh Young Cryptographers Forum.

Nuôi cá lồng bè ở hồ Hòa Bình (Phú Thọ).

Ứng dụng khoa học cho chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp đang là yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển của xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống ứng dụng khoa học, công nghệ đồng bộ cho chuỗi giá trị nông nghiệp được xác định là “chìa khóa” thành công cho việc hiện thực hóa mục tiêu nông nghiệp xanh, bền vững.

Khóa đào tạo về công nghệ lò phản ứng của Trung tâm Đào tạo hạt nhân (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam). (Ảnh: AN LAM)

Xây dựng đội ngũ cho chương trình điện hạt nhân

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của quốc gia cung cấp công nghệ và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam triển khai chương trình điện hạt nhân an toàn, hiệu quả.