Việt Nam trên đường trở thành quốc gia AI

Bài 2: AI trong dạy và học

Sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong môi trường giáo dục-đào tạo là tất yếu. Nhưng đưa AI vào giáo dục như thế nào và thời điểm nào, với sự chuẩn bị ra sao là vấn đề cần được cân nhắc kỹ lưỡng, dựa trên cơ sở khoa học.

Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Olympic trí tuệ nhân tạo Quốc tế (IOAI) 2025 tại Bắc Kinh, Trung Quốc. (Ảnh: NGỌC DIỆP)
Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Olympic trí tuệ nhân tạo Quốc tế (IOAI) 2025 tại Bắc Kinh, Trung Quốc. (Ảnh: NGỌC DIỆP)

(Tiếp theo và hết) (★)

Cơ hội và thách thức

Trong giáo dục, AI đang mở ra những tiềm năng vô cùng lớn, là cơ hội học tập không thể bỏ lỡ. Nhiều quốc gia đã chủ trương tích hợp AI vào giáo dục ở các mức độ khác nhau.

Tại Mỹ, một số trường đã sử dụng AI để gợi ý kế hoạch học tập cá nhân. Singapore đưa AI vào hỗ trợ đánh giá năng lực của học sinh. Trung Quốc phát triển các lớp học thông minh với hệ thống theo dõi dữ liệu dựa trên thời gian học tập thực của học sinh.

Ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo nghiên cứu đưa AI vào giảng dạy sớm cho học sinh ngay từ lớp 1, cho thấy mức độ quan tâm của Nhà nước về lĩnh vực này, nhằm tích cực chuẩn bị kỹ năng cho các thế hệ công dân số trong tương lai.

Sự tham gia của AI trong giáo dục kỳ vọng sẽ tạo ra một sự chuyển đổi mạnh mẽ về phương thức dạy và học. Dù vậy, luôn luôn có mặt tác động tích cực và tiêu cực. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hoài Bắc (Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông) cho rằng: Tác động tiêu cực tiềm ẩn ở chỗ người học có nguy cơ phụ thuộc, suy giảm tư duy phản biện, gia tăng gian lận học thuật tinh vi, bị cô lập, giảm tương tác xã hội trực tiếp.

Đối với người dạy học, AI giúp tự động hóa các công việc hành chính, hỗ trợ thiết kế bài giảng, phân tích dữ liệu học sinh để can thiệp kịp thời, chuyển đổi vai trò từ người truyền đạt sang người cố vấn, dẫn dắt. Tuy nhiên, AI cũng sẽ khiến người dạy có nguy cơ bị thay thế trong một số nhiệm vụ giảng dạy, khó phát hiện gian lận học tập và thi cử của người học.

Tại Việt Nam hiện nay, khi “khoảng cách số” còn nhiều bất cập, nhiều chuyên gia lo ngại về sự gia tăng bất bình đẳng giữa các trường, các vùng có và không có điều kiện tiếp cận AI. Hiện, còn khoảng 1,5 triệu học sinh trong cả nước chưa thể tiếp cận giáo dục trực tuyến. Một lo ngại nữa là bảo mật dữ liệu cá nhân.

Việc thu thập và phân tích dữ liệu học tập của người học đặt ra những lo ngại về nguy cơ lạm dụng thông tin cá nhân cho các mục đích thương mại hoặc giám sát. Trong khi đó Nghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt mà các tổ chức giáo dục phải tuân thủ.

Chuẩn bị gì để AI tham gia môi trường giáo dục?

Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, đưa AI vào tiểu học là đúng thời điểm, nhưng phải “đúng cách”, bắt đầu bằng một lộ trình thí điểm rõ ràng trong 18-24 tháng. Thay vì triển khai đại trà, chúng ta sẽ đi từng bước vững chắc: Chuẩn bị kỹ lưỡng về học liệu và đào tạo giáo viên, thí điểm ở một số địa phương, rồi mới nhân rộng ra toàn quốc dựa trên kết quả thực tế.

Kế hoạch hành động gồm các bước: Thứ nhất, trang bị cho trẻ 3 năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu: Hiểu AI là gì, biết cách dùng AI an toàn và có trách nhiệm, có tư duy sáng tạo khi tương tác với công nghệ bằng việc lồng ghép khoảng 5-10 giờ học mỗi năm cho học sinh từ lớp 1, tích hợp vào các môn học sẵn có và hoạt động trải nghiệm.

Thứ hai, xây dựng “hàng rào an toàn” bắt buộc để bảo vệ trẻ em, gồm hàng rào về giám sát và độ tuổi, học sinh không được tự do sử dụng các công cụ AI tạo sinh (GenAI), mọi hoạt động phải diễn ra qua tài khoản của nhà trường dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên; chỉ cho phép sử dụng các công cụ AI nằm trong một “danh mục trắng” do cơ quan có thẩm quyền thẩm định kỹ càng về nội dung, bảo vệ dữ liệu học sinh, và phù hợp với lứa tuổi.

Thứ ba, cần ngay một chương trình đào tạo chuẩn hóa và xây dựng đội ngũ nòng cốt khoảng 1.000 “giáo viên hạt nhân” về AI để dẫn dắt, lan tỏa kinh nghiệm trên toàn quốc.

Thứ tư, học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách thông minh, không sao chép máy móc, mà chắt lọc những bài học đắt giá từ các quốc gia đi trước như Singapore, Estonia, Hàn Quốc, Mỹ...

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phi Lê, giảng viên Trường Công nghệ thông tin và truyền thông (Đại học Bách khoa Hà Nội) nêu quan điểm, học sinh phải học hết bậc trung học cơ sở mới nên tiếp xúc với AI. Ngay cả AI trong giáo dục đại học cũng đang gặp nhiều bất cập. Các trường đại học thi nhau mở chương trình đào tạo AI nhưng lại thiếu giáo viên, các chuyên gia thuộc hàng “của hiếm”, hạ tầng còn hạn chế.

Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc, Viện Xã hội học và Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, cần triển khai các giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ. Đầu tiên là cải cách nội dung cũng như phương pháp giáo dục, chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức đơn thuần sang phát triển các năng lực bậc cao mà AI chưa thể thay thế như tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác, giao tiếp và trí tuệ cảm xúc; đồng thời tích hợp “năng lực AI” vào chương trình giáo dục phổ thông để học sinh tiếp cận, sử dụng và kiểm soát công nghệ có trách nhiệm.

Nhà nước cần đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ, bảo đảm mọi học sinh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, đều có cơ hội tiếp cận công bằng với các công nghệ giáo dục dựa trên AI. Cuối cùng là yếu tố con người, cần phát triển và đào tạo lại đội ngũ nhà giáo, để mọi giáo viên đều biết cách sử dụng AI, trở thành các nhà cố vấn, dẫn dắt trải nghiệm học tập với sự hỗ trợ của AI, trên nguyên tắc lấy người học làm trung tâm bằng các tiêu chuẩn rõ ràng về đạo đức và một môi trường số lành mạnh.

Trong thời đại số hôm nay, một nền giáo dục tiên tiến phải dựa trên hai yếu tố sống còn là trí tuệ công nghệ và nhân cách con người. Sớm tiếp cận AI trong giáo dục là cần thiết, nhưng phải thận trọng, bởi vì mục tiêu của giáo dục là tạo ra các công dân vừa giỏi công nghệ vừa giàu tình thương, trách nhiệm để xây dựng đất nước.

Cần thúc đẩy phát triển hệ thống AI “made in Việt Nam” cho giáo dục, thiết kế phù hợp với văn hóa, xã hội và chương trình giáo dục Việt Nam. Khi giáo dục chuyển mình cùng AI thì đất nước tiến thêm một bước vững chắc trên con đường trở thành quốc gia AI.

(★) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 13/10/2025.

Có thể bạn quan tâm

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng trao chứng nhận đơn vị đồng hành Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo Hà Nội cho các doanh nghiệp.

Gắn kết "ba nhà" trong đổi mới sáng tạo

Mô hình hợp tác “ba nhà” giữa nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp không phải là khái niệm mới. Nhưng việc ba bên cùng tham gia sáng lập và vận hành một trung tâm đổi mới sáng tạo theo cơ chế “nhà nước định hướng-doanh nghiệp vận hành” thể hiện cách tiếp cận cụ thể và thực chất hơn trong tổ chức hệ sinh thái.

Phát hiện nhiều vụ án về tài sản số không đồng nghĩa với rủi ro gia tăng mà phản ánh quá trình "làm sạch" tất yếu của một lĩnh vực mới.

Công nghệ - yếu tố then chốt trong phòng, chống tội phạm tài sản số

Theo ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA), xu hướng nhiều vụ án về tài sản số được phát hiện, xử lý cho thấy sự tiến bộ của các công cụ truy vết on-chain, năng lực chuyên môn của cơ quan thực thi pháp luật và mức độ phối hợp chặt chẽ giữa sàn giao dịch-tổ chức tài chính-nhà quản lý.

Hoạt động nghiên cứu khoa học với trang thiết bị hiện đại tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: Kim Bách/Báo Nhân Dân)

Làm chủ công nghệ chiến lược

Khoa học và công nghệ thế giới đã bước sang một giai đoạn mới khi nhiều công nghệ nền tảng mang tính chiến lược phát triển rất nhanh, thu hút mạnh nguồn tri thức, vốn đầu tư và được ứng dụng rộng rãi.

Bộ thiết bị thu phát tín hiệu Internet vệ tinh Starlink.

Hoàn thiện nền tảng hạ tầng số quốc gia

Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, đơn vị này đã chính thức cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện cho Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam.

AI giúp du khách khám phá điểm tham quan, đề xuất nhà hàng, xây dựng lịch trình du lịch cá nhân hóa và dịch ngôn ngữ theo thời gian thực.

Du khách Việt dẫn đầu châu Á về xu hướng sử dụng AI khi lên kế hoạch du lịch

Du khách Việt Nam đang dẫn đầu khu vực về mức độ sẵn sàng sử dụng trí tuệ nhân tạo khi lên kế hoạch du lịch. Theo đó, người Việt đã sử dụng AI để gợi ý điểm tham quan và hoạt động địa phương, đề xuất nhà hàng và lựa chọn ẩm thực, xây dựng lịch trình du lịch cá nhân hóa và dịch ngôn ngữ theo thời gian thực.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: INDIAai)

Định hình tương lai trí tuệ nhân tạo lấy con người làm trung tâm

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực lớn nhất định hình tương lai nhân loại, Hội nghị Thượng đỉnh Tác động của trí tuệ nhân tạo năm 2026 tổ chức tại New Delhi (Ấn Độ) đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế.

 Việt Nam sẽ tạo dấu ấn khi khoa học được dẫn lối bằng khát vọng phụng sự Tổ quốc

Việt Nam sẽ tạo dấu ấn khi khoa học được dẫn lối bằng khát vọng phụng sự Tổ quốc

“Khi khoa học được dẫn lối bằng khát vọng phụng sự Tổ quốc, dấu ấn Việt Nam hoàn toàn có thể hiện diện đầy tự hào và xứng đáng trên bản đồ công nghệ thế giới". Trả lời phỏng vấn Báo Nhân Dân nhân dịp đầu xuân Bính Ngọ, PGS, TS Dương Minh Hải (Đại học Quốc gia Singapore - NUS tự tin khẳng định.

Kỹ sư Hồ Quang Cua: Một đời làm khoa học giữa đồng ruộng đổi mới

Kỹ sư Hồ Quang Cua: Một đời làm khoa học giữa đồng ruộng đổi mới

Gắn đời mình với hạt gạo Việt Nam trong suốt bốn thập kỷ đổi mới và hội nhập. Dù ở cương vị nào, nhà khoa học đi lên từ thực tế đồng đất mặn, đất phèn ở Sóc Trăng (cũ) không sợ gian khó, điều tiếng, thậm chí bị vùi dập, mà ông Hồ Quang Cua chỉ sợ thời gian của mình ngày càng ngắn lại.

Chị Vừ Thị Xia (bìa phải), Vừ Thị Chứ (bìa trái) livestream bán khoai sâm và nông sản của Sìn Hồ.

Khi bản làng lên sóng

Từ những phiên livestream giữa nương khoai sâm đất ở Sìn Hồ (Lai Châu) đến vườn na đá ở Chi Lăng (Lạng Sơn), một khái niệm mới đang manh nha: những “ngôi làng số”.

Cán bộ giảng viên, học viên Học viện Cảnh sát nhân dân phát triển AI trong công tác tư vấn, tuyển sinh. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học xã hội

Tiến trình chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra một khối lượng dữ liệu xã hội rất lớn. Đây là nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu khoa học xã hội, góp phần nâng cao chất lượng phân tích, hoạch định chính sách cũng như tăng cường vai trò tư vấn của khoa học xã hội đối với Đảng và Nhà nước.