Làm chủ tiềm năng đất hiếm phục vụ công nghệ mũi nhọn

Cơ quan chức năng kiểm tra mỏ đất hiếm Đông Pao, tỉnh Lai Châu (Ảnh: CỔNG TTĐT TỈNH LAI CHÂU)
Cơ quan chức năng kiểm tra mỏ đất hiếm Đông Pao, tỉnh Lai Châu (Ảnh: CỔNG TTĐT TỈNH LAI CHÂU)

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chuyển đổi công nghệ toàn cầu, đất hiếm là tài nguyên khoáng sản quan trọng, đồng thời là “nguyên liệu đầu vào” có ý nghĩa quyết định đối với các ngành công nghiệp công nghệ mũi nhọn. Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên này trở thành yêu cầu cấp thiết, nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.

Tiềm năng công nghệ tương lai

Đất hiếm đang trở thành vật liệu chiến lược của nhiều ngành công nghệ mũi nhọn như bán dẫn, năng lượng mới, trí tuệ nhân tạo, quốc phòng công nghệ cao và chuyển đổi xanh. Trước yêu cầu phát triển mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khai thác, chế biến và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đặc biệt này phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện rõ định hướng phát triển các công nghệ chiến lược trên nền tảng làm chủ nguồn lực vật liệu. Mới đây, tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các bộ, ngành về định hướng phát triển công nghệ vật liệu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghiệp vật liệu như một ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược; trong đó vật liệu đất hiếm được xác định là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn tới.

Nhiều nguyên tố đất hiếm như Nd, Pr, Dy, Tb, Y hay Eu đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nam châm hiệu suất cao, pin lưu trữ năng lượng, đèn LED, vật liệu phát quang và các thiết bị công nghệ cao. Nhờ những đặc tính vật lý và vật liệu học đặc biệt, đất hiếm đã được ứng dụng rộng rãi trong chế tạo vật liệu từ, vật liệu siêu dẫn, hợp kim đặc chủng, linh kiện điện tử, xúc tác xử lý khí thải, công nghệ hóa dầu, quang học chính xác và cả nông nghiệp công nghệ cao...

Dù được xác định là tài nguyên đặc biệt, có vai trò quan trọng, song ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam hiện vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Hạn chế lớn nhất hiện nay là tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, hoạt động chủ yếu vẫn dừng ở khai thác và xử lý sơ cấp; đồng thời chưa hình thành được chuỗi công nghiệp đồng bộ từ khai thác, tách chiết, tinh luyện đến sản xuất vật liệu và ứng dụng công nghệ cao… Đây chính là khoảng cách lớn nhất giữa tiềm năng tài nguyên và năng lực công nghệ quốc gia.

Chia sẻ về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Vũ Minh, Viện sĩ Hàn lâm Khoa học Nga, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết: Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có nguồn tài nguyên đất hiếm khá phong phú với trữ lượng khoảng 20 triệu tấn ô-xít, phân bố ở nhiều loại mỏ như Đông Pao, Nậm Xe, Mường Hum, Yên Phú và sa khoáng ven biển. Những năm qua, Nhà nước đã quan tâm đầu tư nghiên cứu, định hướng khai thác, chế biến nguồn khoáng sản chiến lược này. Tuy nhiên, ngành công nghiệp đất hiếm vẫn phát triển chưa tương xứng tiềm năng do đầu tư cho khoa học, công nghệ còn phân tán, trong khi lĩnh vực ứng dụng đất hiếm còn hạn chế, hiệu quả kinh tế chưa cao.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Khoa học Vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chỉ rõ: Một quốc gia có đất hiếm nhưng chỉ khai thác và xuất khẩu dưới dạng quặng hoặc tinh quặng sơ cấp thì thực chất mới chỉ bán đi phần thấp nhất của chuỗi giá trị. Giá trị lớn nhất không nằm ở khai thác, mà nằm ở công nghệ tách chiết, tinh luyện độ sạch cao, chế tạo kim loại đất hiếm, hợp kim từ tính, vật liệu phát quang, vật liệu cho pin, cho chip bán dẫn và các linh kiện công nghệ cao. Chính vì vậy, nếu tiếp tục xuất khẩu tài nguyên thô, Việt Nam sẽ không chỉ mất giá trị gia tăng mà còn bỏ lỡ cơ hội xây dựng năng lực công nghệ chiến lược.

Xây dựng năng lực công nghệ chiến lược quốc gia

Với tiềm năng lớn, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển ngành công nghiệp đất hiếm theo hướng hiện đại. Yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ tư duy “khai thác tài nguyên” sang “xây dựng năng lực công nghệ chiến lược”. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm cho rằng, nguyên tắc “không xuất thô” cần được thể chế hóa thành chính sách quốc gia rõ ràng. Việc này không nhằm đóng cửa thị trường mà để bảo đảm các dự án khai thác đất hiếm phải gắn với chế biến sâu, ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và đóng góp thực chất vào hệ sinh thái công nghiệp vật liệu trong nước.

Về lâu dài, cần xây dựng chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia về đất hiếm và khoáng sản chiến lược, bao phủ toàn bộ chuỗi giá trị. Đồng thời, cần hình thành các tổ hợp chế biến sâu tại những địa bàn có lợi thế như Lai Châu, gắn với phát triển công nghiệp vật liệu và công nghệ cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chủ động hợp tác quốc tế có chọn lọc để tiếp thu công nghệ tách chiết, tinh luyện hiện đại, song phải đi kèm chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng cơ sở nghiên cứu trong nước; tránh lặp lại mô hình xuất khẩu tài nguyên thô đổi lấy thiết bị nhập khẩu.

Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân sẽ tạo động lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp công nghệ và startup công nghệ sâu tham gia thương mại hóa vật liệu công nghệ cao, góp phần hình thành ngành công nghiệp đất hiếm. Do đó, cần phát triển thị trường trong nước cho vật liệu đất hiếm thông qua các ngành công nghiệp chiến lược như pin lưu trữ năng lượng, xe điện, điện tử, quốc phòng và năng lượng tái tạo.

Để làm chủ tiềm năng đất hiếm, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Vũ Minh cho rằng, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm và đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ đất hiếm. Đặc biệt, cần sớm xây dựng Đề án phát triển công nghệ hoặc ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam giai đoạn 2025-2030 làm cơ sở quy hoạch, phát triển đồng bộ công nghệ khai thác, chế biến và ứng dụng đất hiếm, từng bước hình thành năng lực công nghệ chiến lược quốc gia.

Hướng nghiên cứu đất hiếm ở Việt Nam được Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Vũ Minh khởi xướng từ năm 1986. Được đào tạo bài bản về hóa học tại Liên Xô, ông tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Matxcơva năm 1968, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 1978 và tiến sĩ khoa học năm 1984 tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Với nền tảng chuyên môn sâu cùng kinh nghiệm nghiên cứu tại một trong những trung tâm khoa học hàng đầu thế giới, ông đã đặt nền móng cho việc hình thành đội ngũ nghiên cứu và phát triển lĩnh vực đất hiếm ở Việt Nam.

Từ những nghiên cứu tiên phong đó, các nhà khoa học trong nước từng bước làm chủ nhiều công nghệ quan trọng về chế biến và ứng dụng đất hiếm. Đặc biệt, cụm công trình “Công nghệ vật liệu đất hiếm phục vụ sản xuất, đời sống và bảo vệ môi trường” do Giáo sư Đặng Vũ Minh và cộng sự thực hiện đã được trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2005. Những thành quả này không chỉ khẳng định năng lực nghiên cứu của Việt Nam mà còn tạo nền tảng khoa học và công nghệ quan trọng cho sự phát triển ngành công nghiệp đất hiếm trong giai đoạn mới.

Có thể bạn quan tâm

Từ ngày 1/7/2026, tăng mức xử phạt với hành vi giả mạo trên mạng xã hội.

Tăng mức xử phạt với hành vi giả mạo trên mạng xã hội

Các hình thức lợi dụng mạng xã hội để giả mạo tài khoản, fanpage, hội nhóm nhằm phát tán thông tin giả, sai sự thật hoặc lừa đảo người dùng ngày càng phổ biến. Từ ngày 1/7/2026, quy định xử phạt đối với các hành vi này tiếp tục được siết chặt với mức phạt tăng cao hơn trước.

Cuộc gọi rác. (Ảnh minh họa)

Siết xử phạt tin nhắn rác, cuộc gọi rác

Tin nhắn chứa đường dẫn giả mạo, cuộc gọi rác hay phần mềm độc hại vẫn là những thủ đoạn phổ biến được các đối tượng sử dụng để tiếp cận người dùng trên môi trường mạng. Pháp luật hiện hành quy định nhiều chế tài xử lý đối với các hành vi này nhằm bảo đảm an toàn thông tin và quyền lợi của người sử dụng dịch vụ viễn thông.

Đồng chí Lê Minh Hoan trình bày tại buổi trao đổi.

Vĩnh Long phát triển hệ sinh thái liên ngành để nâng tầm giá trị nông sản trong chuyển đổi xanh

Sáng 3/6, tại Hội trường Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức buổi làm việc, trao đổi và chia sẻ về công tác chuyển đổi xanh trên địa bàn tỉnh. Đồng chí Lê Minh Hoan, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội chủ trì buổi chia sẻ.

Phiên đối thoại “Niềm tin số thời AI. An toàn bắt đầu từ người dùng” tại diễn đàn “Digital Trust in Finance 2026” với chủ đề “Xây dựng niềm tin số tài chính trong kỷ nguyên AI”.

Bảo vệ người dùng trong kỷ nguyên số

Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với hệ thống tài chính toàn cầu. Chuyển đổi số, kiến tạo niềm tin số không còn là xu hướng lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các quốc gia muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Đổi mới sáng tạo ở Viettel và con đường tự chủ của doanh nghiệp Việt

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Đổi mới sáng tạo ở Viettel và con đường tự chủ của doanh nghiệp Việt

Trong cuộc trò chuyện với Báo Nhân Dân, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel Tào Đức Thắng đã chia sẻ về cách Viettel biến đổi mới sáng tạo thành năng lực cốt lõi, cơ chế chấp nhận rủi ro và định hướng phát triển các công nghệ chiến lược; đề xuất một số kiến nghị về cơ chế chính sách cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.

Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Thực hiện Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp Bộ Công an và các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Dự kiến cơ sở dữ liệu quốc gia được vận hành trong tháng 12/2026, duy trì, hoàn thiện trong các năm tiếp theo.

Triển lãm giới thiệu sản phẩm công nghệ nhân dịp khai trương Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 vào tháng 8/2025.

Từ nguồn tài nguyên số đến động lực phát triển mới

Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang hiện diện trong hầu hết hoạt động của đời sống, từ khám chữa bệnh, học tập, giao thông đến các dịch vụ công trực tuyến. Khi được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, dữ liệu không chỉ giúp nâng cao chất lượng phục vụ người dân mà còn trở thành nguồn lực mới của nền kinh tế số.