Khoa học xã hội nhân văn và công cuộc đổi mới sáng tạo

Trong kỷ nguyên mới, khoa học xã hội và nhân văn không chỉ là khoa học của sự diễn giải, mà còn cần trở thành khoa học của việc kiến tạo giá trị xã hội và mở đường cho những mô hình phát triển mới.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức (thứ tư từ trái sang) cùng các nhà khoa học trao đổi phát triển công nghệ drone tích hợp.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức (thứ tư từ trái sang) cùng các nhà khoa học trao đổi phát triển công nghệ drone tích hợp.

Thấu hiểu con người để kiến tạo giá trị

Theo cách tiếp cận hiện đại, đổi mới sáng tạo được hình thành từ một nền giáo dục khai phóng, tư duy thiết kế và năng lực tạo giá trị. Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng đổi mới sáng tạo không chỉ là phát minh công nghệ, mà là sự kết hợp giữa nền tảng con người, phương pháp giải quyết vấn đề và khả năng chuyển hóa ý tưởng thành giá trị thực tiễn.

Giáo dục khai phóng (liberal arts education) tạo nền tảng để con người biết tư duy độc lập, phản biện, liên ngành và có trách nhiệm xã hội. Nhưng trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo, tinh thần khai phóng cần được nâng lên thành giáo dục giải phóng năng lực con người (emancipatory education): không chỉ giúp con người hiểu thế giới, mà còn khơi mở năng lực sáng tạo, hợp tác, công nghệ, đạo đức và hành động để cải biến thế giới. Đó là nền giáo dục không dừng ở việc thích ứng, mà hướng tới giải phóng tiềm năng con người và kiến tạo một xã hội nhân văn, tiến bộ hơn.

Tư duy thiết kế (design thinking) cung cấp phương pháp để hành động. Đây là cách tiếp cận giải quyết vấn đề lấy con người làm trung tâm, không bắt đầu bằng câu hỏi “chúng ta có công nghệ gì”, mà bắt đầu bằng câu hỏi “con người đang gặp vấn đề gì”.

Một quy trình tư duy thiết kế thường gồm 5 bước: thấu cảm (empathize), xác định vấn đề (define), hình thành ý tưởng (ideate), tạo mẫu (prototype) và thử nghiệm (test). Trong đó, hai bước đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đổi mới sáng tạo.

Ở bước thấu cảm, người thiết kế phải hiểu con người trong bối cảnh sống cụ thể: nhu cầu, khó khăn, động lực, thói quen, niềm tin, chuẩn mực văn hóa và các rào cản xã hội chi phối hành vi. Đây là nơi khoa học xã hội và nhân văn phát huy rõ vai trò, bởi các ngành như xã hội học, nhân học, tâm lý học, giáo dục học, văn hóa học, luật học, truyền thông, chính sách công và khoa học quản lý giúp nhìn con người không chỉ như một “người dùng”, mà như một chủ thể xã hội với hoàn cảnh, quan hệ và hệ giá trị riêng.

Ở bước xác định vấn đề, khoa học xã hội và nhân văn giúp phân biệt các biểu hiện bề mặt với các nguyên nhân gốc rễ. Nhiều chương trình chuyển đổi số, cải cách giáo dục, phát triển đô thị hay đổi mới dịch vụ công gặp khó không hẳn vì thiếu công nghệ, mà vì chưa hiểu đúng nhu cầu, hành vi, niềm tin và bối cảnh xã hội.

Chẳng hạn, dịch vụ công trực tuyến ít người dùng có thể không chỉ do giao diện khó sử dụng, mà còn do thiếu niềm tin, thiếu kỹ năng số, quy trình chưa thuận tiện hoặc lợi ích chưa đủ rõ ràng. Đổi mới giáo dục cũng không thể chỉ dựa vào thiết bị, phần mềm hay học liệu số, mà cần hiểu về động lực học tập, phương pháp sư phạm, quan hệ thầy trò, áp lực gia đình và sự khác biệt giữa các vùng miền.

Ở các bước tiếp theo, khoa học xã hội và nhân văn tiếp tục giúp mở rộng không gian giải pháp, đánh giá mức độ phù hợp và đo lường tác động. Trong bước hình thành ý tưởng, giải pháp không chỉ là một ứng dụng công nghệ, mà còn có thể là một mô hình giáo dục mới, một chính sách mới, một thiết kế dịch vụ công mới, một sáng kiến cộng đồng, một sản phẩm văn hóa số hoặc một phương thức tổ chức xã hội mới.

Trong bước tạo mẫu và thử nghiệm, lĩnh vực này giúp trả lời các câu hỏi: người dùng có hiểu không, có tin không, có thấy phù hợp không, có gặp rào cản văn hóa, tâm lý, pháp lý hay đạo đức không; giải pháp có cải thiện chất lượng sống, tăng niềm tin, giảm bất bình đẳng, thay đổi hành vi và nâng cao năng lực cộng đồng hay không.

Nhìn như vậy, khoa học xã hội và nhân văn không chỉ tham gia ở khâu đánh giá tác động sau khi công nghệ đã được triển khai. Nó hiện diện trong toàn bộ quy trình đổi mới sáng tạo, từ việc hiểu con người, xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, thử nghiệm mô hình đến đo lường tác động và thể chế hóa đổi mới.

Nói ngắn gọn, khoa học xã hội và nhân văn giúp đổi mới sáng tạo tránh 3 nguy cơ: đúng công nghệ nhưng sai vấn đề; đúng giải pháp nhưng sai bối cảnh; đúng mục tiêu nhưng thiếu khả năng được xã hội chấp nhận và lan tỏa.

Thiết kế giải pháp cho các bài toán phát triển

Trên thế giới, khoa học xã hội và nhân văn đang chuyển mạnh từ vai trò chủ yếu là giải thích xã hội sang tham gia kiến tạo các giải pháp cho các vấn đề phát triển. Muốn tham gia và dẫn dắt đổi mới sáng tạo, khoa học xã hội và nhân văn cần đổi mới về lý thuyết và phương pháp. Các khung lý thuyết chủ yếu nhằm mô tả, phân loại hoặc diễn giải xã hội cần được bổ sung bằng các khung lý thuyết có năng lực thiết kế, can thiệp, dự báo và đánh giá tác động. Các phương pháp nghiên cứu truyền thống cần được kết hợp với dữ liệu lớn, khoa học hành vi, mô phỏng chính sách, nghiên cứu tham gia, nhân văn số và khoa học xã hội tính toán.

Nhiều xu hướng mới đang định hình sự chuyển đổi này. Đổi mới sáng tạo xã hội (social innovation) tập trung vào các giải pháp mới cho các vấn đề xã hội thông qua việc thay đổi cách tổ chức, quản trị, giáo dục, cung cấp dịch vụ, xây dựng chính sách hoặc thúc đẩy hành động cộng đồng. Nghiên cứu hành động (action research) và nghiên cứu tham gia (participatory research) đưa nhà khoa học cùng cộng đồng, địa phương, doanh nghiệp tham gia xác định vấn đề, thử nghiệm và hoàn thiện giải pháp. Khoa học hành vi (behavioral science) giúp hiểu cách con người ra quyết định và phản ứng trước các chính sách.

Phòng thí nghiệm chính sách (policy lab) cho phép thử nghiệm chính sách ở quy mô nhỏ trước khi triển khai trên diện rộng. Nhân văn số (digital humanities) và khoa học xã hội tính toán (computational social science) mở rộng năng lực nghiên cứu bằng dữ liệu lớn, phân tích mạng xã hội, khai phá văn bản, mô phỏng hành vi và trí tuệ nhân tạo. Chính sách dựa trên bằng chứng (evidence-based policy) giúp tăng tính chính xác, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý phát triển.

1-1469.jpg
Quy trình của một tư duy thiết kế.

Những xu hướng đó cho thấy khoa học xã hội và nhân văn không mất đi bản chất nhân văn trong thời đại số mà đang mở rộng năng lực và phương pháp để hiểu con người sâu hơn, thiết kế giải pháp tốt hơn và tạo tác động xã hội rõ rệt hơn.

Cũng từ xu thế đó, ranh giới truyền thống giữa khoa học tự nhiên, công nghệ và khoa học xã hội-nhân văn đang trở nên mềm hơn. Trí tuệ nhân tạo đồng thời là thuật toán, dữ liệu, đạo đức, pháp lý, lao động và niềm tin. Chuyển đổi xanh bao gồm vật liệu, năng lượng, hành vi tiêu dùng, sinh kế và công bằng trong phát triển. Đô thị thông minh đồng thời là hạ tầng số, quy hoạch, văn hóa sử dụng không gian, quản trị cộng đồng và chất lượng sống.

Nếu còn sự phân biệt giữa các lĩnh vực, đó chủ yếu là sự khác biệt về cách tiếp cận, kỹ thuật nghiên cứu và hình thức đầu ra. Về bản chất, tất cả đều cùng tham gia vào sứ mệnh chung là mở rộng năng lực của con người và kiến tạo những hình thức phát triển tốt đẹp hơn.

Hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cạnh tranh phát triển hiện nay, khoa học xã hội và nhân văn cần được đặt đúng hơn trong chuỗi giá trị quốc gia.

Trước hết, cần đưa khoa học xã hội và nhân văn vào các chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia ngay từ khâu thiết kế, nhất là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế, đô thị, công nghiệp văn hóa, phát triển vùng, quản trị dữ liệu và đạo đức công nghệ. Nếu không hiểu đúng con người, văn hóa, hành vi và thể chế ngay từ đầu, nhiều chương trình đổi mới, dù có công nghệ tốt, vẫn có thể gặp khó khăn trong quá trình triển khai.

Thứ hai, cần phát triển các phòng thí nghiệm xã hội tại các trường đại học, các viện nghiên cứu và ở địa phương. Đây là không gian thử nghiệm chính sách, mô hình giáo dục, truyền thông, hành vi, dịch vụ công, văn hóa số và quản trị cộng đồng trên các bài toán thực tế, dữ liệu thực tế và cộng đồng thực tế. Cách làm này giúp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn không chỉ dừng ở khuyến nghị mà còn có thể tham gia kiểm chứng, điều chỉnh và hoàn thiện giải pháp trước khi nhân rộng.

Thứ ba, cần đặt hàng các chương trình nghiên cứu lớn về con người Việt Nam, hệ giá trị quốc gia và văn hóa đổi mới sáng tạo. Một quốc gia đổi mới sáng tạo không thể chỉ dựa vào hạ tầng số và công nghệ mới mà cần con người đổi mới sáng tạo, văn hóa khoa học, niềm tin xã hội, năng lực hợp tác, đạo đức công nghệ và hệ giá trị đủ mạnh để định hướng phát triển.

Thứ tư, cần đổi mới sản phẩm nghiên cứu, cơ chế tài trợ và đánh giá khoa học xã hội và nhân văn. Bên cạnh bài báo, sách chuyên khảo và báo cáo tổng kết, cần phát triển các báo cáo chính sách, bộ chỉ số, cơ sở dữ liệu xã hội, mô hình can thiệp, sản phẩm văn hóa số, sáng kiến cộng đồng và các giải pháp quản trị có thể triển khai. Việc đánh giá cần coi trọng chất lượng học thuật, khả năng ứng dụng kết quả và tác động xã hội.

Cuối cùng, cần đào tạo thế hệ nhà khoa học xã hội và nhân văn mới: vững lý thuyết, giỏi phương pháp, có năng lực về dữ liệu, hiểu biết công nghệ, có tư duy chính sách và biết làm việc với cộng đồng. Đây là lực lượng có thể chuyển khoa học xã hội và nhân văn từ vai trò giải thích xã hội sang vai trò đồng kiến tạo xã hội; từ vai trò phản biện sau cùng sang vai trò tham gia ngay từ đầu trong chuỗi đổi mới sáng tạo.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.

Hình ảnh về tác động mà tên lửa của SpaceX gây ra trên bề mặt Mặt Trăng. (Ảnh: NASA)

Nguy cơ "tắc nghẽn" quỹ đạo Trái đất do rác vũ trụ

Các chuyên gia vũ trụ cảnh báo ngày càng nhiều rủi ro từ lượng rác thải không gian đang tăng lên, làm dấy lên lo ngại về tình trạng “tắc nghẽn” quỹ đạo và thách thức trong việc thu gom xử lý chúng. Lời cảnh báo được đưa ra sau sự cố một tên lửa của SpaceX va chạm với Mặt trăng ngày 5/8.

Công an thành phố Hà Nội cảnh báo một số chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm

Công an thành phố Hà Nội cảnh báo một số chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm

Công an thành phố Hà Nội vừa phát đi cảnh báo về 2 chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm đang bị các nhóm tin tặc khai thác, tấn công trực tiếp vào hệ thống thông tin của các cơ quan, đơn vị và thiết bị di động của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên địa bàn, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh mạng, an ninh thông tin.