Bài 1: Động lực khoa học, công nghệ với đổi mới mô hình phát triển

Bài 1: Động lực khoa học, công nghệ với đổi mới mô hình phát triển

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, mỗi bước đột phá đều gắn với quá trình đổi mới mô hình phát triển. Một mô hình đúng đắn giúp xác định động lực tăng trưởng, phương thức phân bổ nguồn lực, cơ chế vận hành nền kinh tế và các ưu tiên phát triển dài hạn.

Nghị quyết số 19-NQ/TW, Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam khẳng định, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bài 1: Động lực khoa học, công nghệ với đổi mới mô hình phát triển

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra cơ hội quan trọng để Việt Nam phát triển giàu mạnh, hùng cường. Những chuyển biến trong sản xuất, kinh doanh và quản trị nền kinh tế trên nền tảng này thời gian qua đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, đồng thời cũng bộc lộ những điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Gia tăng đóng góp cho nền kinh tế

Thích ứng với bối cảnh đổi mới, những năm qua, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với sự phát triển đất nước có bước chuyển biến rõ rệt. Tư duy phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng được khẳng định trong hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện ở các ngành, lĩnh vực và địa phương.

Nhiều địa phương đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Trong khi khu vực doanh nghiệp, xu hướng ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và tự động hóa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phổ biến, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả quản trị doanh nghiệp.

Tổng tác động trực tiếp và gián tiếp của hoạt động khoa học và công nghệ năm 2025 tương đương khoảng 2,5% GDP, tức khoảng 320,4 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 51% so với năm 2020.

Thực tế tại nhiều doanh nghiệp cho thấy, khi công nghệ được ứng dụng đồng bộ vào quy trình, chất lượng sản phẩm và phương thức quản trị, giá trị tạo ra có thể được nâng lên đáng kể.

Tại Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì, Giám đốc công ty Đào Công Trường cho biết, năm 2007 khi thành lập cơ sở sản xuất bánh sữa, mọi công đoạn đều thủ công, sữa được nấu bằng bếp truyền thống, bánh được cán bằng tay, gói bằng giấy nến đơn giản cho nên 100kg sữa tươi qua quá trình sản xuất chỉ cho ra khoảng 13kg bánh sữa.

Đến năm 2019, khi Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì ra đời, đánh dấu bước chuyển từ sản xuất thủ công sang chế biến hiện đại với quy trình ứng dụng khoa học, kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển. Từ khâu chăn nuôi, vắt sữa, vận chuyển, đến khâu bảo quản, kiểm nghiệm, phân tích độ béo, chất khô, vi sinh, tồn dư kháng sinh, chế biến, ứng dụng công nghệ sấy lạnh ở nhiệt độ -40 độ C… đã giúp sản xuất của công ty hiệu quả hơn đáng kể.

1792653316245-1838707315326569150-3203264870288625486-a0c9ad4697c5127070725fd89e0d6e69.jpg
Một góc khu công nghiệp Vân Trung, thành phố Bắc Ninh. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Hiện nay, Công ty liên kết với 45 hộ dân, quy mô gần 300 con bò sữa, mỗi ngày thu mua khoảng 5,3 tấn sữa tươi chế biến nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Từ một cơ sở sản xuất thủ công, mới đây, Công ty có 5 sản phẩm được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia; 15 sản phẩm đạt OCOP 4 sao cấp thành phố.

Ở lĩnh vực năng lượng, theo đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), trong bối cảnh hệ thống điện vận hành rất lớn với độ phức tạp cao hơn, đơn vị đã từng bước làm chủ công nghệ, tri thức và năng lực đổi mới sáng tạo, đủ khả năng dẫn dắt kỹ thuật cho toàn ngành điện.

Trong đó, chỉ riêng khối truyền tải điện đã ứng dụng UAV và AI để phát hiện bất thường trong giám sát kiểm tra lưới điện, giảm 22,4% nhân công trong quản lý, vận hành đường dây 500kV và 17,9% đối với đường dây 220kV; tại khối phân phối điện, các Tổng công ty Điện lực đã đẩy mạnh triển khai hệ thống SCADA/DMS, công-tơ điện tử, hệ thống đo xa, dịch vụ điện trực tuyến và chăm sóc khách hàng số, giảm khoảng 13.000 nhân công, ước tính tiết kiệm 2.700 tỷ đồng mỗi năm...

1792656910287-1838707315326569150-3203264870288625486-857e971779bd5b7431fac17b3e125059.jpg
Kiểm tra chất lượng sữa trước khi đưa vào quy trình sản xuất tại Công ty cổ phần sữa Con bò vàng Ba Vì. (Ảnh: XUÂN KỲ)

Trong khi đó, từ góc độ quản lý nhà nước, đánh giá về những đóng góp quan trọng của khoa học, công nghệ trong thực hiện các khâu đột phá, giải quyết những vấn đề trọng tâm của địa phương, Thạc sĩ Thái Thị Thu Hường, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên cho biết, bình quân giai đoạn 2021-2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt khoảng 8,62%/năm. Đặc biệt, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP bình quân đạt 46,94%; trong đó riêng năm 2025 đạt 52,27% cho thấy mô hình tăng trưởng của tỉnh đang từng bước chuyển từ dựa vào vốn và lao động sang dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo.

Năm 2026, riêng tháng 9, doanh thu lĩnh vực công nghiệp công nghệ số ước đạt 770.766 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng ước đạt 5.387.142 tỷ đồng, tăng khoảng 32,1% so với cùng kỳ.

Các kết quả gần đây cho thấy tác động kinh tế của khoa học và công nghệ đã trở nên rõ hơn. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2025, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế quốc tế vững chắc với Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) xếp hạng 44/139 quốc gia; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo vươn lên vị trí thứ 55 toàn cầu. Doanh thu toàn ngành khoa học và công nghệ năm 2025 ước đạt 5.465.819 tỷ đồng; quy mô nhân lực khoảng 2.381.940 lao động; giá trị đóng góp vào GDP đạt khoảng 1.443.769 tỷ đồng. Bước sang năm 2026, riêng tháng 9, doanh thu lĩnh vực công nghiệp công nghệ số ước đạt 770.766 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng ước đạt 5.387.142 tỷ đồng, tăng khoảng 32,1% so với cùng kỳ.

Trong khi đó, báo cáo kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2026 của Bộ Tài chính cho thấy, cơ quan quản lý đã tiếp nhận 132.701 đơn sở hữu công nghiệp, xử lý 160.848 đơn và cấp 64.815 văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp; tổng giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ đăng ký đạt 15.997,198 tỷ đồng.

Khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường còn lớn

Kết quả đạt được thời gian qua cho thấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang có đóng góp ngày càng rõ hơn vào nền kinh tế nhưng mới là một phần của tiềm năng và để đột phá vẫn còn những điểm nghẽn đáng kể. Trong đó, tình trạng đánh giá chưa đầy đủ, sâu sắc về vai trò khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với sự phát triển đất nước còn xảy ra ở một số cấp, ngành, địa phương, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn lực phân tán; mối liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo chưa chặt chẽ. Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học chậm được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội, dẫn đến tình trạng khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường còn khá lớn.

vien-khoa-hoc-vat-lieu-4.jpg
Hoạt động nghiên cứu tại Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: XUÂN KỲ)

Một số địa phương dù có các chỉ số dẫn đầu nhưng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa tương xứng. Điển hình tại Hà Nội, với quy mô kinh tế 63 tỷ USD (12,36% cả nước); hệ sinh thái khởi nghiệp top đầu và dẫn đầu chuyển đổi số (DTI) cấp tỉnh năm 2024 nhưng khoảng cách giữa "vị thế dẫn đầu chỉ số" và "đóng góp thực vào TFP" còn rất lớn; năm 2025 kinh tế số của Hà Nội mới đạt 17,34% GRDP chưa đạt mục tiêu đặt ra (30%).

Đối với doanh nghiệp Việt Nam phần lớn vẫn ở vị trí gia công, lắp ráp hoặc phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Số lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ số quy mô lớn còn chưa nhiều; khả năng cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghệ cao vẫn hạn chế. Việt Nam vẫn chưa làm chủ được nhiều công nghệ lõi và công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, điện toán hiệu năng cao hay công nghệ an ninh mạng.

Đầu tư cho R&D ở nước ta chỉ bằng khoảng 15% mức bình quân OECD. Khoảng cách này không chỉ là vấn đề ngân sách, mà phản ánh quy mô nhỏ của R&D doanh nghiệp, mức độ liên kết hạn chế giữa viện-trường-doanh nghiệp và thiếu cơ chế tài chính phù hợp với tính rủi ro của nghiên cứu.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh,

Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Đáng chú ý, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của nước ta chỉ khoảng 0,4%-0,6% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của thế giới và nhiều quốc gia trong khu vực.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, đầu tư cho R&D ở nước ta chỉ bằng khoảng 15% mức bình quân OECD. Khoảng cách này không chỉ là vấn đề ngân sách, mà phản ánh quy mô nhỏ của R&D doanh nghiệp, mức độ liên kết hạn chế giữa viện-trường-doanh nghiệp và thiếu cơ chế tài chính phù hợp với tính rủi ro của nghiên cứu.

Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo năm 2025 đạt 34,6% cho thấy phần lớn doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn về vốn, nhân lực, thông tin, cơ sở thử nghiệm, bảo hộ tài sản trí tuệ và thị trường cho sản phẩm mới.

1791543666671-1838707315326569150-3203264870288625486-7c21518217a37c23ee846ce923eabbd0.jpg
Hoạt động nghiên cứu thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: THƠM VŨ)

Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) thì băn khoăn, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp của cả nước, tạo việc làm cho hơn 40 triệu lao động nhưng lại là khu vực đang chịu áp lực lớn trước yêu cầu về vốn, công nghệ, nhân lực số, quản trị dữ liệu, khả năng đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh, thương mại điện tử xuyên biên giới…

Hiện nay, hơn 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang vận hành theo mô hình quản trị bán thủ công; tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận R&D còn rất thấp; khoảng 55% - 60% doanh nghiệp thiếu lao động có kỹ năng số; trong khi đó, chi phí tuyển dụng nhân lực công nghệ cao vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp nhỏ.

Nhiều chuyên gia cho rằng, hiện nay, chất lượng tăng trưởng đã có chuyển biến nhưng vẫn còn khoảng cách lớn so với mục tiêu đến năm 2030 và các mục tiêu tiếp theo. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ ở thiếu nguồn lực và những vấn đề nêu trên mà còn chính là ở khả năng xác định đúng bài toán, chuẩn bị nhiệm vụ, hấp thụ vốn, hấp thụ công nghệ và chuyển hóa nguồn lực thành sản phẩm, năng suất, doanh thu và tăng trưởng cho nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải có sự chuyển đổi căn bản từ mô hình phát triển truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự hội nghị. (Ảnh: VŨ TÂN)

Khánh Hòa đẩy mạnh chuyển đổi số từ cấp cơ sở

Ngày 23/10, tại Nha Trang, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức hội nghị về giải pháp chuyển đổi số tại địa phương, với chủ đề “Chuyển đổi số cấp cơ sở tỉnh Khánh Hòa-Từ khung kiến trúc, nền tảng và dữ liệu số đến quản trị địa phương, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân”.

Hội thảo “Giải pháp phát huy vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam là cầu nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc trong các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội”. (Ảnh: BÍCH LIÊN)

Phát huy hiệu quả công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội

Ngày 23/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội thảo “Giải pháp phát huy vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam là cầu nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc trong các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội”.

Công nghệ viễn thám và UAV hỗ trợ khoanh vùng phạm vi dữ liệu. (Ảnh: VNPT)

Ứng dụng công nghệ viễn thám và GeoAI: Đột phá làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai

Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai "đúng, đủ, sạch, sống" đang là nhiệm vụ trọng tâm. Sự kết hợp giữa công nghệ viễn thám, thiết bị bay không người lái (UAV) và trí tuệ nhân tạo không gian địa lý (GeoAI) đang trở thành "chìa khóa" giúp ngành chức năng tối ưu hóa công tác kiểm tra, đối soát và làm sạch dữ liệu trên phạm vi toàn quốc.

Các đại biểu tham quan SHTP ATP Lab. (Ảnh: CAO TÂN)

Khánh thành Xưởng thực hành Đóng gói và Kiểm thử vi mạch

SHTP ATP Lab được kỳ vọng sẽ góp phần giải bài toán cốt lõi: thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo lý thuyết và yêu cầu kỹ thuật thực tế tại doanh nghiệp. Sinh viên, học viên và kỹ sư từ đây có cơ hội rèn luyện kỹ năng thao tác, tuân thủ quy trình an toàn và vận hành máy móc đúng tiêu chuẩn công nghiệp.

Nhân viên lắp pin, chuẩn bị vận hành UAV phục vụ vận chuyển nông sản tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. (Ảnh: VIETNAM POST)

Tập trung nguồn lực phát triển công nghệ dùng chung

Qua rà soát 113 đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược của 30 địa phương, Bộ Khoa học và Công nghệ nhận thấy nhiều nội dung có nội dung, nền tảng công nghệ tương đồng ở các nhóm đề xuất như trợ lý ảo, camera trí tuệ nhân tạo, thiết bị bay không người lái, dữ liệu y tế và bản sao số...

Ông Phùng Văn Thành - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Malaysia (đứng giữa), Tiến sĩ Frederick Yap - Chủ tịch IBF (thứ 2 từ trái sang), bà Đặng Minh Anh - Chủ tịch IBF Vietnam-Singapore (thứ 3 từ phải sang) tại sự kiện. (Ảnh: IBF Vietnam-Singapore)

Ra mắt nền tảng kết nối doanh nghiệp trên môi trường số IBF Business Hub

Nền tảng kết nối doanh nghiệp trên môi trường số IBF Business Hub vừa chính thức ra mắt, đánh dấu bước chuyển dịch quan trọng trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) làm "hạ tầng vận hành lõi" dùng chung cho hoạt động xúc tiến thương mại và kết nối đầu tư doanh nghiệp đến doanh nghiệp (B2B) quốc tế.

Học sinh cần học trí tuệ nhân tạo để biết AI trả lời đúng hay sai. (Ảnh: Viettel Solutions)

Đưa trí tuệ nhân tạo từ trang sách vào trải nghiệm học tập

Học sinh có thể đọc sách để biết trí tuệ nhân tạo (AI) học từ dữ liệu, hoặc hỏi một chatbot và nhận câu trả lời trong vài giây. Nhưng để thực sự hiểu biết máy học thế nào, vì sao có thể sai, kết quả ấy ảnh hưởng tới con người ra sao và con người phải chịu trách nhiệm thế nào khi sử dụng công nghệ, các em phải được tự tay thử.

Chuẩn hóa dữ liệu, đưa các hoạt động của tổ chức đảng lên môi trường số tại Phú Thọ đang từng bước hình thành nền quản trị đảng viên đồng bộ, minh bạch, hiệu quả hơn. (Ảnh: NGỌC LONG-HỒNG HÀ-TRẦN HẢO)

Phú Thọ đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng

Thực hiện yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả quản lý tổ chức đảng và đảng viên, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn ngành Tổ chức xây dựng Đảng. Trọng tâm là chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đảng viên, triển khai Sổ tay đảng viên điện tử và đổi mới phương thức quản lý, điều hành trên môi trường số.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại cuộc họp cập nhật tiến độ Dự án ODA “Nâng cao năng lực giám định hài cốt trong chiến tranh thông qua hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận trang thiết bị, hóa chất, vật tư tiêu hao”. (Ảnh: Mai Lan)

Cập nhật tiến độ dự án nâng cao năng lực giám định ADN hài cốt liệt sĩ

Ngày 21/10, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp Ủy ban quốc tế về Người mất tích (ICMP) tổ chức cuộc họp cập nhật tiến độ Dự án ODA “Nâng cao năng lực giám định hài cốt trong chiến tranh thông qua hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận trang thiết bị, hóa chất, vật tư tiêu hao”.

Tập huấn về chuyển đổi số cho cán bộ, đoàn viên xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HG)

Quảng Trị thí điểm hỗ trợ nhân lực chuyển đổi số cho cấp xã

Tại buổi làm việc trực tiếp kết hợp trực tuyến với các ngành, địa phương, doanh nghiệp về nâng cao chất lượng nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới đây, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị yêu cầu nhanh chóng triển khai thí điểm mô hình hỗ trợ nhân lực chuyển đổi số cho cấp xã. 

Hội nghị hướng tới gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, đưa kết quả khoa học vào sản xuất, kinh doanh và tạo ra các sản phẩm có giá trị trên thị trường. (Ảnh: MST)

Thúc đẩy liên kết viện-trường-doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển Khoa học và Công nghệ

Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày 23/10/2026 sẽ tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn trong liên kết giữa các bên, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam.

Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ tham quan các gian hàng tại Lễ kỷ niệm hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Thúc đẩy liên kết viện, trường và doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển công nghệ

Ngày 23/10, Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ sẽ tập trung làm rõ những điểm nghẽn trong hợp tác, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam.