15 năm gieo chữ, ươm mầm sáng kiến cải thiện giáo dục mầm non vùng cao

“Cố lên, tất cả vì các con!”. Đó là lời tự động viên bản thân mà cô giáo Đỗ Thị Loan vẫn luôn tâm niệm để vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ trong hơn 1 thập kỷ “gieo chữ, trồng người” ở những địa bàn xa xôi nhất của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Cô giáo Đỗ Thị Loan, Phó Hiệu trưởng Trường mầm non Kim Nọi (huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái) chuẩn bị trang phục cho học sinh trước giờ học STEM.
Cô giáo Đỗ Thị Loan, Phó Hiệu trưởng Trường mầm non Kim Nọi (huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái) chuẩn bị trang phục cho học sinh trước giờ học STEM.

Đến với điểm trường chính của Trường mầm non Kim Nọi (huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái), chúng tôi đã vô cùng ngạc nhiên. Không chỉ có cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp, mái trường này còn được trang bị nhiều mô hình học tập STEM hấp dẫn, đầy sắc màu dành cho học sinh.

Giờ học STEM ở vùng cao

Giờ học STEM tại Trường mầm non Kim Nọi luôn tràn ngập trong không khí vui tươi, hào hứng. Từ những bài học đơn giản như tự làm đồ chơi, dụng cụ học tập bằng nguyên liệu thiên nhiên, các em nhỏ người dân tộc thiểu số còn được tham gia hàng loạt hoạt động bổ ích như: giao lưu văn hóa, chợ phiên vùng cao giả định…

Học sinh Trường mầm non Kim Nọi trải nghiệm phương pháp STEM qua hoạt động chợ phiên giả định.

Học sinh Trường mầm non Kim Nọi trải nghiệm phương pháp STEM qua hoạt động chợ phiên giả định.

Môi trường giáo dục hiệu quả, an toàn đó có được một phần không nhỏ là nhờ những nỗ lực của cô giáo Đỗ Thị Loan, Phó Hiệu trưởng nhà trường. Ở huyện vùng cao Mù Cang Chải nói riêng và toàn tỉnh Yên Bái nói chung, cô luôn được đồng nghiệp biết tới như một “cây sáng kiến” với nhiều ý tưởng phát triển giáo dục mầm non được chính quyền, ngành giáo dục công nhận, phụ huynh học sinh đánh giá cao.

Chỉ tính riêng năm vừa qua, cô giáo sinh năm 1984 đã có 2 sáng kiến về tăng cường sử dụng tiếng Việt trong giáo dục trẻ mầm non và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Mông trong môi trường mầm non, được Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái công nhận, tiến tới áp dụng rộng rãi trên toàn tỉnh.

Các sáng kiến của cô Đỗ Thị Loan luôn gắn liền với các phương pháp học tập, giáo dục STEM tiên tiến. Qua đó, trẻ mầm non được thỏa sức sáng tạo, làm quen với các ngành nghề thủ công mang đậm bản sắc vùng cao, tự tay tạo nên những món đồ dùng, đồ chơi mang tính giáo dục, nghệ thuật.

Từ năm học 2010-2011 đến nay, đã 11 năm liên tiếp cô giáo Đỗ Thị Loan đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi cấp trường, 5 lần đạt Giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 3 lần đạt Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 2 lần được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái tặng Bằng khen, 1 lần được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen vì những thành tích xuất sắc, cống hiến tiêu biểu cho sự nghiệp giáo dục.

Các em nhỏ vùng cao hồ hởi chuẩn bị cho 1 tiết mục nghệ thuật mang bản sắc, văn hóa vùng cao.

Các em nhỏ vùng cao hồ hởi chuẩn bị cho 1 tiết mục nghệ thuật mang bản sắc, văn hóa vùng cao.

Không chỉ có vậy, cô còn thường xuyên tìm kiếm, kết nối các nhà hảo tâm, vận động nguồn lực xã hội để chăm lo cho học sinh, hỗ trợ xây dựng đường sá, bổ sung trang thiết bị học tập cho các ngôi trường vùng cao.

Với những nỗ lực kể trên, năm 2022, cô Đỗ Thị Loan đã trở thành 1 trong 68 giáo viên tiêu biểu, được tuyên dương tại chương trình “Chia sẻ cùng thầy cô” do Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phối hợp Tập đoàn Thiên Long tổ chức.

15 năm gieo chữ ở Mù Cang Chải

Ra trường năm 2007, ngay từ những ngày đầu nhận công tác, cô giáo trẻ Đỗ Thị Loan đã không khỏi bỡ ngỡ, thậm chí hụt hẫng khi được phân công làm giáo viên chủ nhiệm 1 lớp mẫu giáo tại ngôi trường có tới 3 cấp học là Tiểu học và Trung học Cơ sở La Pán Tẩn (huyện Mù Cang Chải).

“Điểm trường Trống Páo Sang nơi tôi nhận nhiệm vụ nằm cách điểm trường chính 5km. Để tới lớp, tôi và các đồng nghiệp cũng phải đi bộ vượt núi, băng rừng, chinh phục những dốc đá heo hút, dựng đứng. Mỗi khi trời mưa, dù đã đi ủng và làm đủ mọi cách, nhưng đôi chân các cô giáo đều sưng tấy vì lạnh và quãng đường quá xa”, cô Loan nhớ lại.

Ngày nào cũng vậy, cô giáo Đỗ Thị Loan và các đồng nghiệp cũng phải dậy từ sớm tinh mơ và chỉ trở về điểm trường chính khi trời đã tối mịt vì còn phải hỗ trợ học sinh về nhà an toàn. Với những điều kiện công tác nêu trên, rõ ràng mức lương 400 nghìn đồng/tháng không phải là động lực để các cô giáo trẻ vượt khó “cắm bản”.

Không giống như một số đồng nghiệp người địa phương, cô giáo người Kinh không hề biết tiếng địa phương khi nhận nhiệm vụ. Để khắc phục điều này, cô đã vừa học tiếng H'Mông, vừa vận dụng sáng tạo để áp dụng giáo án song ngữ vào giảng dạy và đã thành công trong việc tăng cường tiếng Việt để nâng cao hiệu quả lĩnh hội của học sinh.

Cô giáo Đỗ Thị Loan (áo đen, bên phải) hướng dẫn học sinh làm đồ chơi, dụng cụ học tập trong một giờ học STEM.

Cô giáo Đỗ Thị Loan (áo đen, bên phải) hướng dẫn học sinh làm đồ chơi, dụng cụ học tập trong một giờ học STEM.

Sau quãng thời gian công tác tại điểm Trường Trống Páo Sang, cô Đỗ Thị Loan nhận nhiệm vụ tại 1 ngôi trường gần huyện Mù Cang Chải hơn. Nói là gần, nhưng về cơ bản thì điều kiện công tác thực tế cũng không có nhiều cải thiện. Những chiếc xe gắn máy của các cô giáo thường xuyên phải bỏ lại giữa đường, vài ngày sau mới được mang về do trời mưa lớn hoặc đường xá sạt lở liên tục. Điểm trường không có nhà hiệu bộ, các cô phải sinh hoạt, ăn ở trong kho chứa đồ.

Năm 2015, cô Loan tiếp tục làm chủ nhiệm 1 lớp mẫu giáo ghép 3 độ tuổi ở điểm bản vùng sâu. Quãng đường học sinh của cô tới lớp rất xa, nói nôm na là các con đều ở hẳn trong rừng. Nhiều trường hợp phụ huynh không đồng ý cho con em tới trường, cô lại cùng các đồng nghiệp đến các lán, lều của đồng bào để vận động.

“Có những cô giáo mới vào nghề, phải dừng lại nghỉ rất lâu giữa đường đi vận động vì quá mệt, đã quay sang hỏi tôi rằng: “Chị ơi, liệu con dốc tới, chúng mình còn leo nổi không?” Mỗi lần như vậy, tôi lại cố gắng cười thật tươi và động viên: “Vì các con, cố lên em ơi!”, cô Đỗ Thị Loan hồi tưởng.

Trò chuyện với chúng tôi tại Trường mầm non Kim Nọi, cô giáo tâm huyết với nghiệp gieo chữ ở vùng cao chia sẻ: “15 năm qua, tôi cũng từng có lúc chùn bước. Nhưng nghĩ đến ánh mắt ngây thơ, nụ cười xinh xắn của các con, tôi lại gạt hết đi để tiếp tục con đường đã chọn. Tôi mong rằng, những sáng kiến của tôi sẽ ngày càng phát huy hiệu quả, góp 1 phần nhỏ phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà”.

Có thể bạn quan tâm

Ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

24 biên bản hợp tác được trao tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: NH)

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sức khỏe

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ chức khai mạc Hội nghị Khoa học sức khỏe với chủ đề “Chăm sóc sức khỏe toàn diện trong kỷ nguyên số”. Hội nghị diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10 với 59 báo cáo khoa học thuộc các lĩnh vực y khoa, răng-hàm-mặt, dược và điều dưỡng.

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.

Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Giá trị của AI phải được chứng minh bằng kết quả học tập

AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.

Quang cảnh tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” diễn ra chiều 8/10, trong khuôn khổ IECEE 2026. (Ảnh: BUV)

Trí tuệ nhân tạo làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp

Không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn, doanh nghiệp ngày càng chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, giao tiếp và thích ứng của sinh viên mới tốt nghiệp. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng ở nhiều vị trí việc làm.

Hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu và học viên cao học, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế. (Ảnh: FTU)

Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo sau đại học chuẩn quốc tế

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Trường đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế dành cho người học sau đại học (ICGE 2026) với chủ đề "Tái định hình hợp tác trong một thế giới phân mảnh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, thị trường và chính sách".

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sáng khai mạc sáng 8/10. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giáo dục trong kỷ nguyên số: Hợp tác để làm chủ công nghệ, phát triển con người

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tạo diễn đàn thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục; mở rộng quan hệ giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế; chia sẻ mô hình, phương pháp và công nghệ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, học tập và quản trị.

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026, sáng 8/10, Ngày hội khoa học và công nghệ cho học sinh phổ thông phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) đã được tổ chức tại Trường tiểu học và THCS Vĩnh Hưng với sự tham gia của gần 1.000 học sinh.

Hình ảnh cuộc thi “Tìm hiểu Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám” dành cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Giáo dục di sản văn hóa ở trường học

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt chỉ tiêu: Đến năm 2030, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chúc mừng và tặng quà lưu niệm cho Hội Khuyến học Việt Nam.

Xây dựng xã hội học tập từ năng lực thực của mỗi người dân

Sau 5 năm triển khai các chương trình về học tập suốt đời và xây dựng mô hình “Công dân học tập”, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt, vượt mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2026-2030, trọng tâm được chuyển mạnh sang chất lượng thực của việc học, để mỗi người dân có cơ hội học, khả năng học và động lực học suốt đời.

Trao giấy Chứng nhận cho các thí sinh tham gia kỳ thi. (Ảnh: CTV)

Vĩnh Long: Gần 2.000 thí sinh tham gia cuộc thi chọn học sinh giỏi Giải toán trên máy tính cầm tay

Sáng 7/10, cuộc thi chọn học sinh giỏi Giải toán trên máy tính cầm tay năm học 2026-2027 chính thức được tổ chức đồng loạt tại 3 điểm thi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long gồm: Trường trung học phổ thông Bến Tre, Trường trung học phổ thông chuyên Nguyễn Thiện Thành và Trường trung học phổ thông Lưu Văn Liệt.

(Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Đổi mới quy định về tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục quốc phòng và an ninh

Nội dung Giáo dục quốc phòng và an ninh dự kiến được lồng ghép ở bậc tiểu học, trung học cơ sở; là môn học chính khóa ở trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; đồng thời là nội dung cơ bản, quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.