Người làng tôi

Cậu em vừa rót nước, vừa dè dặt hỏi:
0:00 / 0:00
0:00
Minh họa: NGUYỄN MINH
Minh họa: NGUYỄN MINH

- Chị còn nhớ bác Trực xóm đầm không? Bác có ngôi nhà và khu vườn um tùm cây cối.

Tôi gật đầu. Khu vườn cây, cái ao cá và cả bác Trực nữa, tất cả là một phần trong thước phim tuổi thơ tôi, sao không nhớ chứ.

- Chị có biết nhà bác Trực hôm nay phông bạt rình rang, xe to, xe con về đang đỗ đầy sân đình kia là có vụ gì không?

Chưa nghe tôi trả lời nó đã liền một mạch:

- Lễ ra mắt, nhận anh em, họ mạc của thằng Kiếm con cô Tuân đấy. Nghe đâu, anh Truyền con bác Trực đứng ra tổ chức. Anh em họ giờ người nào cũng giàu có. Thằng Kiếm giờ cũng giáo sư, tiến sĩ gì đó, nghe nói suốt ngày lên tivi. Cách đây hai ngày, thằng Kiếm qua mời em dự buổi liên hoan này. Cả làng gần như ai cũng giống em, bất ngờ quá chị ạ…

*

Trong ký ức của tôi, có một ngày vô cùng đau buồn. Đó là ngày địa phương tổ chức truy điệu cho liệt sĩ Lại Văn Tư. Tôi không hiểu lễ báo tử là gì. Chú mới đi bộ đội được mấy tháng. Hôm chú ấy lên đường tòng quân, cả xóm tiễn ra đầu đình, tôi cũng đi theo, còn được chú bế bổng lên nữa. Cảnh tượng hôm ấy làm tôi ngỡ ngàng, hiểu lơ mơ, chẳng phải chuyện gì vui cả. Một cái bàn phủ cờ Tổ quốc. Rồi rầm rĩ tiếng khóc của cô Xinh vợ chú. Cô ấy kêu gào lăn lộn. Hình như cô trách cứ chú. Chú hẹn với cô cùng chị em thằng Cẩn, đi đánh giặc, Tết chú về, mua quần áo đẹp cho cả nhà nhưng chú không bao giờ về nữa mà chỉ có tờ giấy kia về! Cho đến khi bà cúi xuống bảo tôi: “Chú Tư hy sinh rồi, không về được nữa, cả đơn vị bị bom Mỹ thả trên đường đi vào nam rồi!”. Khi ấy, tôi mới hiểu ra.

Chuyện chú Tư làm cho làng xóm não nề không biết bao ngày. Vợ chú gầy rộc, gầy rạc, đôi mắt vô hồn, thâm quầng. Hàng xóm thay nhau tới động viên, chăm sóc cô ấy. Mấy bà còn rang cả gạo vàng lên rồi nấu cháo lấy nước cho cô uống. Hai chị em thằng Cẩn con chú Tư chẳng biết buồn, cứ hết chặn ngõ lại la cà hái hoa bồ kết dại bó thành từng chùm bày lên mặt bể.

- Khổ, bọn trẻ vô tư, hồn nhiên chẳng hiểu gì sất. Bố mất cũng cười.

Mấy người lớn nói vậy. Ai cũng xót. Mới đây chú còn ở làng, luôn miệng huýt sáo. Mỗi lúc có máy bay Mỹ xuất hiện trên bầu trời là chú lại bắc loa, trèo lên ngọn cây gạo đầu đình thông báo cho bà con xuống hầm trú ẩn. Cả làng từ người già tới em bé, ai cũng quý mến chú. Trong xóm, nhà ai có việc nặng nhẹ gì cũng gọi chú.

*

Chú Trung thì rất đẹp trai, là con độc nhất của bà Cạc nhưng bà vẫn động viên chú ra trận. Chú đi bộ đội còn chưa kịp làm đám cưới. Người yêu của chú là cô giáo Thuận. Nhà cô ở xóm Liễu bên kia bờ mương. Những đêm hè trăng sáng, cô vẫn sang sân hợp tác, cùng các cô chú đoàn viên dạy bọn trẻ múa hát. Họ gần cưới nhau thì chú có giấy gọi lên đường nhập ngũ. Mấy ngày chú mới đi, cô ở bên bà Cạc cả ngày. Có hôm bà ốm, cô còn ngủ với bà. Hàng xóm cứ xì xèo: Con gái mất nết, chưa trầu héo, cau điếc, chửa phải dâu con gì đã vác xác sang nhà người ta ngủ.

Bà Cạc thì thích thú, vui mừng ra mặt. Bà nói cô biết quan tâm, bà coi cô như con mặc dù chưa cưới hỏi. Cô Thuận thì bỏ ngoài tai mọi điều ong, tiếng ve, ngày nào cũng liếng vóng qua nhà bà. Có hôm bà ốm, cô ở lại cơm nước, bóp tay chân cho bà. Cô đợi chờ chú Trung cho tới khi có tin báo tử vẫn đợi.

Rồi ai khuyên bảo cũng vậy. Bao đám đến dạm hỏi, bố mẹ cô có đón tiếp hồ hởi thế nào thì nét mặt cô vẫn thế: dửng dưng như vô cảm. Cô chăm chỉ, lam lũ. Ngoài giờ dạy học, cô cũng làm ruộng cùng cha mẹ. Lúc nào nhìn ống xà cạp dưới chân cô cũng đỏ quạch vì bị axit ngoài ruộng chua bám vào. Mỗi khi cô cởi bỏ ống xà cạp đó ra rửa chân, ai cũng muốn ngắm đôi chân cô, thon trắng nõn nà. Nhớ ngày chú Trung chưa đi bộ đội, tối đến cô chú vẫn hò đối đáp với nhau. Nhất là những đêm trăng sáng, hai bên bờ đầm, trai gái từng tốp kéo nhau ra cùng hò hát tới nửa đêm.

Bà tôi chẳng ưa gì bà Cạc, vậy mà hôm nghe tin báo tử chú Trung, bà vứt bỏ hết việc nhà, chạy xuống nhà bà Cạc, đi ra đi vào săn sóc, động viên đến đêm cũng chẳng chịu về. Bọn trẻ trong xóm, chẳng đứa nào bảo đứa nào, hưởng ứng phong trào giúp đỡ những gia đình thương binh, liệt sĩ mà nhà trường phát động, thường bảo nhau có việc gì mỗi đứa một chân, một tay giúp bà.

*

Cùng ra chiến trường với chú Tư, chú Trung còn có rất nhiều trai làng. Chiến tranh khốc liệt, đã có rất nhiều người đi mà không trở về. Cô Tuân cũng như cô Thuận, đều có người yêu ra trận. Nhưng người yêu cô Tuân, chiến tranh qua đến vài năm rồi vẫn bặt vô âm tín. Cô vì chờ đợi chú mà trở thành gái lỡ thì. Người yêu cô chính là chú Mười, con trai ông Thất, xóm Giếng. Chuyện cô chú yêu nhau, cả làng đều biết.

Nhà cô Tuân chung bờ rào với nhà tôi. Cô rất quý tôi, hay gọi tôi sang góc sân nhà cô ngồi để cô bắt chấy, tết tóc. Có lần, cô nhờ tôi đưa thư cô viết cho bác Trực, cô dặn tôi đừng nói cho ai biết. Có lẽ cô tin tôi là đứa trẻ biết giữ bí mật.

Tôi nhớ, sẩm tối hôm ấy, tôi lấy cần câu của anh Trưởng, cuốc vài con giun và đi thẳng xuống ao nhà bác Trực. Cái ao rất lớn. Chung quanh là tre dây um tùm. Tôi ung dung chui vào bụi tre thả câu. Cá ở ao bác Trực nhiều lúc nổi lên dày đặc. Trời nhập nhoạng tối, vài con cá rô bên cạnh thi thoảng lại giãy rùng rục. Từ ngõ nhà tôi, tiếng bà nội, tiếng anh và mẹ bắc loa tay gọi liên hồi. Tôi định chui ra thì bất ngờ, cô Tuân ở đâu mang bèo xuống cầu ao rửa. Cô đang lúi húi cầm giành bèo xoay xoay, giũ giũ thì bác Trực trong nhà đi ra. Bác rón rén xuống cầu ao, bước đến tận bậc cuối rồi ôm chầm lấy cô.

Mắt tôi căng ra. Tôi tưởng cô Tuân sẽ la làng. Nhưng, lạ thay, cô cũng buông giành bèo ra và ôm chặt lấy bác Trực. Nhà bác Trực cuối xóm, lại sát triềng đầm nên chẳng ai đến đó vào lúc này. Vợ và các con bác đã chuyển đi vùng kinh tế mới. Tôi nghe rõ tiếng bác Trực ghé vào tai cô Tuân thì thào:

- Lũ cá nhà anh khôn lắm, cho nó ăn, anh vẫn gọi tên em. Nghe thấy anh gọi là chúng nhao nhao tới.

…Vài tháng sau, cái bụng cô lùm lùm rồi nặng nề không giấu được ai. Buổi tối, buổi trưa, cuộc tụ tập nào người làng cũng xì xào. Họ nói cô ngủ hóa, chửa hoang. Đi làm công điểm, dù là việc chung, cũng không ai muốn kết hợp với cô. Tội nghiệp cô cứ lủi thủi chẳng nói, chẳng rằng. Nhà cô chỉ có một mẹ, một con. Mẹ cô đã sớm bị lòa, hằng ngày chỉ ở yên trong nhà, chẳng đi đến đâu. Cô Tuân sinh, tuy mẹ tròn, con vuông nhưng cô rất yếu vì băng huyết. Cũng thời gian đó, một buổi tối, mẹ tôi đi họp xã viên về, vừa vào góc sân đã to nhỏ với bà chuyện bác Trực bán xong nhà, ra vùng mỏ cùng vợ con rồi!

*

Bác Trực giờ đã thành người thiên cổ. Đứa con hoang của họ cũng lớn dần lên. Câu chuyện của họ vẫn là bí mật tôi cất giữ bao năm. Tôi bỗng cảm thấy có lỗi. Thằng em nói cắt ngang dòng hồi ức của tôi, hỏi bâng quơ:

- Nếu thằng Kiếm không phải thành đạt như bây giờ mà vẫn “trên răng dưới đạn” thì mấy ông con bác Trực có tìm nó không nhỉ!

Chẳng hiểu sao, tôi cũng lây cái ngu ngơ của nó, buột miệng nói:

- Biết đâu thằng Kiếm mới là người tìm đến.

Cậu em im lặng, suy tư. Tôi nhìn điệu bộ của nó bật cười:

- Nhưng thôi, cũng là một cái kết vô cùng tốt đẹp. Đi đi, sang mừng cho họ thôi!

Nó đi rồi. Còn lại một mình tôi bên tách trà đã nguội. Tôi nghĩ về cô Xinh, cô Tuân, cô giáo Thuận. Cô Thuận tuổi già nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp dịu dàng, phúc hậu, đoan trang hiếm có. May mắn cô còn có đồng lương hưu sau bao năm dạy học. Cô Xinh hằng tháng có tiền lương liệt sĩ, trái gió, trở trời thì đã có các con. Thằng Kiếm xây nhà lại cho cô Tuân khang trang nhất xóm. Mấy năm nay, nó muốn đón cô lên Thủ đô nhưng cô nhất định không chịu. Tôi biết cô đã từng tổn thương rất nhiều nhưng không bao giờ tôi nghe cô kêu ca, phiền trách ai cả. Cô vẫn nói: Làng mình nghèo nhưng dễ sống, chịu khó buôn đầu chợ, bán cuối chợ cũng không sợ đói. Mất mùa xách giỏ xuống sông kiếm con cáy, con còng, đầy việc, chỉ sợ người làm biếng. Dân mình thô nhưng thật thà, chất phác, hiền lành. Chẳng đâu bao dung như quê đâu cháu ạ!

Những tia sáng của một ngày tắt hẳn. Trăng đang buông phủ xuống làng quê một thứ ánh vàng yên ả và tĩnh mịch. Lác đác ánh đèn điện từ những ngôi nhà trong xóm được bật lên. Ngoài đường vẫn rộn rã bước chân người qua lại. Trong vườn bảng lảng chút hơi sương, gió mang theo hơi nước từ khu đầm ba xã rộng lớn, lan tỏa mát dịu. Làng quê vẫn còn giữ nếp ấy, những ngày sáng trăng, điện đường cũng thắp muộn. Xa xa, từ phía bờ sông, tiếng sóng vọng về rì rầm không ngớt như kể lại với bờ cát ướt đẫm những câu chuyện xa xưa về người làng tôi.