Làng giữa phố

Với hơn 1.000 hộ dân, làng Đông Hà (phường 3, TP Đông Hà, Quảng Trị) là một trong những ngôi làng cổ xưa trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng. Điều đáng nói, dẫu đã chịu nhiều đổi thay qua thời gian thì Đông Hà vẫn giữ được những nét đặc trưng của làng quê giữa chốn thị thành. Những người thợ rèn miệt mài lao động ngày đêm, những người nông dân tần tảo một nắng hai sương với cây lúa trên đồng, giữ hồn vía cho ngôi làng có đến hơn 400 năm tuổi.

Ngay giữa thành phố Đông Hà, người dân vẫn sản xuất nông nghiệp, nét đặc trưng của làng giữa phố.
Ngay giữa thành phố Đông Hà, người dân vẫn sản xuất nông nghiệp, nét đặc trưng của làng giữa phố.

Lên phố tìm làng

Nằm ngay trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị, làng Ðông Hà (nay là phường 3, TP Ðông Hà) có vị trí địa lý hết sức thuận lợi. Theo "Phủ biên Tạp lục" của học giả Lê Quý Ðôn viết vào năm 1776 thì làng Ðông Hà xưa kia thuộc tổng An Lạc, huyện Ðăng Xương, phủ Triệu Phong. Ðơn vị hành chính này tồn tại đến thời kỳ Pháp thuộc. Cái lý mà bậc tiền nhân (hai vị tiền khai khẩn và hậu khai khẩn là ông Nguyễn Ðăng Danh và ông Hoàng Văn Bao) chọn Ðông Hà để lập làng là nó nằm gần sông. Với nguồn nước dồi dào của dòng sông Hiếu, người dân có thể trồng lúa, trồng rau. Ðó là chưa kể đến nguồn lợi thủy sản dồi dào từ sông. Nơi đây tiếp giáp với chợ Ðông Hà, là địa chỉ để người dân buôn bán, chạy chợ.

Làng Ðông Hà hôm nay bao gồm khu phố 1 đến khu phố 7 và khu phố Khe Lấp, hơn 1.000 hộ, hơn 6.000 dân. Bà con của 11 họ tộc trong làng vẫn giữ được tính cố kết cộng đồng. Chuyện làm ăn, tình làng nghĩa xóm kết nối bà con lại với nhau. Ðặc biệt là những dịp hiếu hỷ trong làng, bà con quần tụ về đây rất đông. Ðông Hà nay là phố, nhưng nó vẫn là làng. Ấy là tinh thần quý giá mà bà con vẫn còn giữ được", ông Nguyễn Ðông Hải, Thủ bộ làng Ðông Hà chia sẻ với chúng tôi như thế.

Ông Nguyễn Văn Quý là một trong những bậc cao niên của làng Ðông Hà. Ông Quý 82 tuổi, là người chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử, của làng cho chúng tôi hay: "Với lợi thế về giao thông đường bộ (quốc lộ 9), đường thủy (sông Hiếu - Cửa Việt), đường sắt bắc - nam đi qua địa bàn, nên việc giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hóa của làng Ðông Hà hết sức thuận tiện. Cùng với nghề rèn, các nghề làm mộc, làm gạch ngói cũng phát triển theo yêu cầu của cuộc sống phát triển kinh tế. Các ngành nghề thủ công, cùng với sản xuất nông nghiệp đã tạo cho người dân làng Ðông Hà có một cuộc sống lao động sản xuất và buôn bán sầm uất, nhộn nhịp. Tên Ðông Hà nghĩa là con sông chảy từ phía đông. Làng Ðông Hà được hình thành dọc theo sông Hiếu. Bây giờ đã có các hộ gia đình kinh doanh buôn bán nhưng cốt yếu hộ dân sống tại Ðông Hà vẫn gắn bó với làng mạc, ruộng đồng. Người dân quen sống với nghề nông bao đời cha ông truyền lại. Người dân làng Ðông Hà chịu thương, chịu khó, một nắng hai sương, sống với nhau rất nghĩa tình".

Con sông Hiếu chảy êm ái tưới mát cho cả cánh đồng trù phú, đem miền phù sa về với Ðông Hà. Chạy dọc đường Bà Triệu, đầu mối giao thông chính của làng Ðông Hà, chúng tôi mới thấy hết những yên ả hiếm có nơi chốn đô thị. Làng trong thành phố, thành phố ở ngay chính trong làng. Ðông Hà là bức tranh quê giữa lòng phố xá. Cũng có lẽ bởi điều này, cộng với hồn vía của quê hương xứ sở mà cứ hỏi, cứ nói, người dân ở đây ai cũng trìu mến với hai từ "làng tôi" thay cho từ "khu phố".

Nghề rèn truyền thống

Được hình thành từ thời Hậu Lê, cuối thế kỷ 16, làng Ðông Hà vẫn giữ được những thứ rất làng. Trong lúc tìm hiểu chúng tôi thấy rằng, ở thời hiện đại vẫn có những người thợ rèn yêu nghề và người nông dân một nắng hai sương canh tác trên mảnh ruộng "hương hỏa" ngay giữa thành phố để nấu cơm cúng tổ tiên và đó cũng là nguồn thực thẩm cho gia đình.

Ông Nguyễn Ðức Tý, hiện ở khu phố 2, phường 3 tâm sự với chúng tôi bên bếp lửa đang hừng hực cháy: "Trước nhắc "Ðông Hà than" ai cũng biết vì xưa làng Ðông Hà ngoài làm nông nghiệp chủ yếu làm lò rèn. Những thợ rèn ở làng Ðông Hà nức tiếng cả một vùng bởi tay nghề cao, sản phẩm đạt chất lượng tốt. Tôi làm nghề này đã 30 năm, kế tục sự nghiệp của ông nội và cha tôi. Cái nghề cha ông truyền cho để thất truyền là có tội. Tôi coi nghề này như tấm ruộng hương hỏa mà ông bà để lại cho mình". Ông Nguyễn Chu Lai, cũng làm nghề rèn chia sẻ thêm: "Do điều kiện khí hậu, thời tiết nên người dân làng Ðông Hà xưa ngoài việc làm nông là chủ yếu, họ còn biết phát triển thêm nghề rèn, nghề mộc và buôn bán. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các lò rèn của làng Ðông Hà đã tham gia đúc đầu đạn Thần Công, rèn giáo mác phục vụ bộ đội, du kích chiến đấu góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của quê hương đất nước. Khu phố 1 và khu phố 2 là gốc của làng Ðông Hà, trước có rất nhiều hộ làm nghề rèn, về sau do thị trường biến động nên số hộ làm nghề rèn giảm đi, giờ cả làng chỉ còn chừng 10 hộ. Nghề rèn thu nhập đủ sống nhưng cũng vất vả. Có người làm vì mưu cầu sự sống, có người làm vì lẽ quen nhưng hầu hết vẫn muốn níu giữ ngành nghề truyền thống của làng Ðông Hà, xem nó như là một nét đẹp văn hóa giữa chốn phố phường".

Những dụng cụ sản xuất nông nghiệp được bàn tay khỏe mạnh và khéo léo của những người thợ rèn làm nên. Với ông Tý: "Nghề rèn góp phần tôi luyện tâm hồn và tính cách của người dân làng Ðông Hà, tạo nên nét khác biệt rất độc đáo của người dân nơi đây. Ngay cả khi quá trình đô thị hóa đã đẩy nghề rèn giảm sút về số lượng người làm nghề nhưng người dân nơi đây vẫn nhớ, vẫn nhắc, tự hào về một nghề nghiệp mang tính chất gia truyền khi làng lên phố".

Chúng tôi đem câu hỏi về những đổi thay của làng qua mấy thế kỷ đến ông Nguyễn Ðông Hải, người mới 56 tuổi nhưng vẫn được bầu làm Thủ bộ trong khi Quy ước của làng Ðông Hà phải là 60 tuổi. Ông Hải dẫn chúng tôi ra tận đình làng, vừa đi vừa nói chuyện. Trên đoạn đường nửa cây số chúng tôi đã thấu hiểu những buồn vui, thăng trầm của làng Ðông Hà.

Ông Hải cho biết: "Vào dịp tháng 7 hoặc các dịp lễ trọng của làng con cháu trong 11 họ tộc tham gia đầy đủ. Trong đó có lớp trẻ, đó là sự tiếp nối cho truyền thống làng Ðông Hà. Dù nay đã lên thành phố, nhưng mọi người trên khu phố 3, thậm chí nhiều nơi trong tỉnh vẫn xem khu phố 3 là làng Ðông Hà. Việc sắp tới là tôn tạo đình làng và khuôn viên, có chỗ thờ tự tiền nhân, vừa để làm nơi sinh hoạt tâm linh cho con cháu trong 11 họ tộc".

Hơn 400 năm bao đổi thay, bao lớp người cộng với sự bào mòn của thời gian, thời cuộc. Làng Ðông Hà vẫn giữ được hồn vía giữa đô thị phồn hoa. Ðó là điều trân quý khi từng con người biết gìn giữ, là niềm thán phục của người đến đây trước sức tồn tại của một cộng đồng người dân thành thị trong nỗ lực giữ lấy làng. Nói như ông Nguyễn Ðông Hải, mà chúng tôi cho phần nào nó có lý, và có cả tình. Rằng "trong cuộc sống phải rất tự nhiên, không khiên cưỡng. Người dân làng Ðông Hà không cố ý níu giữ ngôi làng trong thành phố. Họ tự nhiên trồng rau, chăm chỉ đốt lò, tần tảo trên đồng với cây lúa... thì làng nằm lại".