1.Sau khi được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, Khánh Hòa sở hữu không gian văn hóa Chăm phong phú. Đây là điều kiện thuận lợi để địa phương mở rộng sản phẩm du lịch, kết nối thế mạnh biển, đảo với du lịch văn hóa, tâm linh và trải nghiệm cộng đồng.
Nguồn lực văn hóa Chăm còn hiện diện sinh động trong các làng nghề. Làng gốm Bàu Trúc được biết đến là một trong những làng gốm cổ ở Đông Nam Á, với kỹ thuật tạo hình và nung gốm hoàn toàn thủ công đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Cách đó không xa, làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp vẫn duy trì nghề truyền thống có lịch sử hàng trăm năm. Không gian văn hóa ấy còn được làm giàu bởi những lễ hội truyền thống như Katê, Ramưwan và Rija Nagar. Trong đó, Katê là lễ hội lớn của người Chăm Bàlamôn, với không gian lễ hội diễn ra từ đền tháp đến từng làng và gia đình.
2.Từ nguồn tài nguyên phong phú, nhiều di tích, danh lam thắng cảnh và làng nghề Chăm đã được các đơn vị lữ hành đưa vào chương trình tham quan. Hoạt động bảo tồn, trùng tu di tích, duy trì lễ hội và phục dựng nghệ thuật dân gian cũng từng bước gắn với quảng bá du lịch. Tuy nhiên, theo PGS, TS Phan Quốc Anh, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa, giá trị của một số di tích văn hóa Chăm hiện vẫn chưa được phát huy đầy đủ. Vì vậy, cần nghiên cứu phục dựng các hoạt động lễ hội tại những không gian văn hóa phù hợp, qua đó tạo thêm sự gắn kết giữa di sản, đời sống cộng đồng và hoạt động du lịch. Còn ông Lê Kim Nhựt (Chi hội trưởng Chi hội Hướng dẫn viên Du lịch, Hiệp hội Du lịch tỉnh Khánh Hòa) cho rằng, các sản phẩm du lịch liên quan văn hóa Chăm hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào tham quan và nghe thuyết minh. Các hoạt động trải nghiệm thực tế còn chưa phong phú, khiến thời gian ở lại và mức độ ghi nhớ của du khách chưa cao. Mô hình du lịch cộng đồng tại các làng nghề chưa đồng bộ, sự tham gia trực tiếp và hưởng lợi ích kinh tế của người dân bản địa còn thấp.
Từ thực tế đó, theo các chuyên gia, để văn hóa Chăm thật sự trở thành nguồn lực phát triển, cần chuyển từ mô hình tham quan đơn thuần sang du lịch cộng đồng có trách nhiệm, trong đó người dân trực tiếp tham gia xây dựng, vận hành và hưởng lợi từ sản phẩm. Các hộ dân cần được tập huấn, tạo điều kiện hơn để phát triển mô hình lưu trú cộng đồng, gìn giữ kiến trúc nhà ở và giới thiệu ẩm thực truyền thống. Những đội văn nghệ, nghệ nhân múa và người sử dụng nhạc cụ dân tộc cần được hỗ trợ tổ chức biểu diễn định kỳ tại các điểm du lịch. Nguồn thu từ dịch vụ lưu trú, ẩm thực và biểu diễn sẽ được phân phối trực tiếp đến cộng đồng, tạo động lực duy trì di sản.
Khi cộng đồng được trao quyền và hưởng lợi công bằng, mỗi nghệ nhân, chức sắc và người dân sẽ trở thành một “đại sứ văn hóa”. Du lịch khi ấy không chỉ khai thác di sản mà còn tạo nguồn lực để nuôi dưỡng di sản, giúp những giá trị văn hóa Chăm tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.