Cuộc chiến đối phó rác thải

Rác do con người thải ra ngày càng nhiều đang là vấn đề nan giải đối với nhiều nước trên thế giới. Rác thải không những làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe con người mà còn gây thiệt hại về kinh tế. Trước tình trạng đó, nhiều nước trên thế giới đang tìm kiếm những biện pháp hiệu quả hơn nhằm hạn chế, thu gom và xử lý rác thải.

Rác thải trải dài trên một bờ biển của Australia. Ảnh: REPLAS
Rác thải trải dài trên một bờ biển của Australia. Ảnh: REPLAS

Số lượng rác thải rắn ngày càng tăng

Theo báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2016, thế giới thải ra hai tỷ tấn rác thải rắn đô thị, trong khi năm 2013 là 1,8 tỷ tấn. Cuộc sống của con người ngày càng sung túc hơn nên tiêu dùng ngày càng nhiều hơn, do đó thải rác rắn cũng nhiều hơn. Các nền kinh tế phát triển chỉ chiếm 16% dân số thế giới nhưng thải ra 34% rác thải rắn của thế giới, đồng thời rác thải của các nền kinh tế đang phát triển cũng tăng mạnh.

Với chiều hướng hiện nay, WB dự tính đến giữa thế kỷ 21, người dân ở châu Âu và Bắc Mỹ sẽ thải số rác thải rắn nhiều hơn 25% so hiện nay. Cùng giai đoạn này, khối lượng rác thải rắn sẽ tăng 50% ở Đông Á, gấp hai lần ở Đông - Nam Á, và gấp ba lần ở châu Phi. Toàn bộ số rác thải rắn toàn cầu sẽ lên tới 3,4 tỷ tấn. Khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ các bãi rác thải sẽ chiếm từ 8 - 10% tất cả các loại khí thải vào năm 2025.

WB cũng ước tính, trên thế giới hiện chỉ có 13% rác thải rắn được tái chế. Tháng 7 vừa qua, Tòa án Tối cao Ấn Độ cảnh báo Thủ đô New Delhi đang bị các “núi rác” bao phủ. Hoạt động đốt rác không được kiểm soát đã gây ra khói độc hại làm nghẹt thở những vùng chung quanh New Delhi. Khí độc hại có thể thấm vào đất và làm các luồng nước bị nhiễm độc. Trong khi đó, nhiều con sông ở Indonesia chứa đầy rác làm tắc nghẽn dòng chảy. Theo LHQ, ở các khu vực rác thải không được thu gom thường xuyên, cuộc sống của con người có nguy cơ tăng bệnh tật.

Ở các nước nghèo nhất, đặc biệt tại châu Phi, rác vẫn được thải ra bất cứ nơi đâu và việc xử lý còn rất hạn chế. Các nhà khoa học cảnh báo, rác thải đổ ra biển cũng đang hủy hoại nghiêm trọng môi trường biển. Ngư dân ở biển Arab (thuộc Ấn Độ Dương) phàn nàn rằng lưới của họ đánh bắt được số rác thải nhựa nhiều hơn bốn lần so số lượng cá. Còn tại Thái Bình Dương, rác thải trôi nổi lên tới 79.000 tấn chai nhựa hay mảnh vỡ chất dẻo!

Các nhà nghiên cứu thuộc LHQ ước tính ít nhất có hơn năm tỷ mảnh nhựa đang trôi nổi trên các đại dương. Nếu lấy tất cả nhựa ra khỏi đại dương và chia đều thì mỗi người sẽ nhận ít nhất 48 mảnh nhựa. Và theo một nghiên cứu mới nhất, các nhà khoa học phát hiện hạt vi nhựa trong 90% sản phẩm muối ăn được lấy mẫu trên khắp thế giới. Nghiên cứu này do các nhà khoa học ở Hàn Quốc và Tổ chức Hòa bình xanh châu Á thực hiện. Qua kiểm tra 39 mẫu sản phẩm muối ăn được thu thập từ 21 quốc gia thuộc châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Phi và châu Á, họ phát hiện hạt vi nhựa trong 36 mẫu. Theo National Geographic, mật độ vi nhựa trong muối ăn ở mỗi nhãn hiệu khác nhau, nhưng với sản phẩm muối từ châu Á thì mật độ này đặc biệt cao. Nghiên cứu cũng ước tính, mỗi năm trung bình một người trưởng thành đưa vào cơ thể xấp xỉ 2.000 hạt vi nhựa thông qua muối.

Tranh: GHAMIR ALI

Các biện pháp thu gom và xử lý rác thải

Nhiều nước trên giới ngày càng nhận thấy hậu quả tai hại của rác thải đối với kinh tế, hệ sinh thái và sức khỏe con người. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, tăng trưởng kinh tế tốt, mức sống nâng cao và tiêu dùng tăng làm tăng lượng rác thải, vượt khả năng thu gom ở Đài Loan (Trung Quốc), khiến hòn đảo này được xem là “đảo rác”. Năm 1993, gần một phần ba lượng rác thải của Đài Loan không được thu gom và tái chế. Đến năm 1996, khoảng hai phần ba các bãi phế liệu không còn chỗ chứa.

Trước tình hình đó, giới chức Đài Loan đã xây dựng 24 nhà máy đốt rác với chi phí 2,9 tỷ USD, ngoài ra còn đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến cáo người dân không vứt rác bừa bãi... Hiện nay, chính quyền Đài Loan bắt buộc các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm thu gom, xử lý các sản phẩm sau khi thải bỏ. Các hộ gia đình phải trả tiền cho số rác mà họ thải ra. Người vứt rác bừa bãi sẽ bị phạt nặng và công bố danh tính trước công chúng. Với những nỗ lực bảo vệ môi trường, đến nay Đài Loan đã có khả năng tái chế 52% lượng rác thải thu gom từ hộ gia đình và các công ty, 77% lượng rác thải công nghiệp, gần bằng Hàn Quốc, Đức. Ngành công nghiệp tái chế của Đài Loan mang lại thu nhập hằng năm hơn hai tỷ USD.

Ở một số nước công nghiệp phát triển, người dân đã phải trả tiền cho khối lượng rác do mình thải ra. Tại Đức, Pháp, Hà Lan,… những người thu gom rác sẽ chỉ chấp nhận những túi rác có thể tái chế. Sau đó, họ phân loại rác có thể tái chế rồi chuyển đến các cơ sở tái sinh vật liệu. Tại nhiều nơi ở Bắc Mỹ, tiền thu thuế của thành phố được trả cho việc thu gom rác và chuyển đến các cơ sở xử lý rác lớn, như đảo Newby ở San Jose (Mỹ) do Công ty Republic Services điều hành. Đây là công ty xử lý rác lớn thứ hai của Mỹ, điều hành 91 cơ sở tái chế rác, 191 bãi phế liệu và 114 lò đốt rác sản xuất điện trên toàn quốc. Republic Services tiếp nhận 156 xe chở 1.600 tấn rác/ngày; khối lượng rác tái chế đạt 1.400 tấn/ngày.

Ông Scott Smithline, người giám sát tái chế rác thuộc Cục Bảo vệ môi trường ở bang California (Mỹ) cho rằng, nhiều người không biết những loại rác nào có thể tái chế. Theo ông Scott, một số đồ vật có thể tái chế riêng nhưng không thể tái chế chúng khi lẫn với vật khác, như cốc làm bằng giấy và đồ nhựa. Vì vậy, tại nhiều nước đã xuất hiện nhiều thùng đựng rác hữu cơ và vô cơ đặt ở nơi đổ rác. Tại các nước phát triển, nếu người dân đổ nhầm rác vào thùng, rác có thể được chọn lọc tại nhà máy xử lý rác thông minh nhờ công nghệ sử dụng các cảm biến quang học và nam châm tách các đồ vật một cách tự động.

Những nỗ lực khuyến cáo người dân phân loại rác thải đang được thúc đẩy ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, những chiếc máy đổi vỏ lon lấy tiền mặt (bỏ các vỏ chai và lon nước ngọt đã qua sử dụng vào máy, máy sẽ trả tiền mặt) đang xuất hiện ở nhiều siêu thị nhằm khuyến khích người dân tạo thói quen về ý thức bảo vệ môi trường và giảm bớt rác thải, dù thói quen của người tiêu dùng không dễ thay đổi.