Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, năm 2026 diện tích trồng ớt trên địa bàn tỉnh ước đạt khoảng 1.446,8 ha,
tập trung chủ yếu tại các xã phía đông và phía tây, năng suất ước đạt 196,3 tạ/ha, sản lượng 28.402,2 tấn. Đến nay, tỉnh đã cấp 5 mã số vùng trồng ớt xuất khẩu. Diện tích cây gừng ước khoảng 289 ha (trồng nhiều ở Đăk Ui, Tây Trà, Tây Trà Bồng, Ia Chim, Đăk Tô), năng suất ước 74,1 tạ/ha, sản lượng 931,5 tấn; diện tích cây đậu các loại ước khoảng 3.097 ha, trong đó các xã phía đông trồng 2.600 ha.
Thời gian qua, việc ứng dụng KHCN và các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất ớt, gừng, đậu được quan tâm nhưng còn hạn chế. Phần lớn người dân vẫn sản xuất theo tập quán truyền thống, chưa chú trọng áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến và giải pháp công nghệ cao trong sản xuất, thâm canh. Do đó, năng suất, chất lượng và sản lượng chưa cao, chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, lợi thế của các vùng sản xuất.
Cùng với đó, tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn, nhất là một số sản phẩm có sản lượng lớn, thời gian thu hoạch tập trung và phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu. Đầu ra sản phẩm chưa thật sự ổn định, giá thu mua biến động theo từng thời điểm ảnh hưởng đến thu nhập và hiệu quả sản xuất của người dân. Liên kết sản xuất - thu mua - chế biến chưa chặt chẽ dẫn đến khi thị trường xuất khẩu biến động thì giá tại ruộng giảm rất nhanh, trong khi khâu chế biến, bảo quản và đa dạng hóa sản phẩm từ ớt cũng như nông sản khác còn hạn chế.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu tăng cường tổ chức sản xuất gắn với nhu cầu thị trường; đẩy mạnh liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua, chế biến và tiêu thụ; từng bước chuyển từ tiêu thụ sản phẩm tươi sang chế biến, bảo quản và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Khi đầu ra ổn định hơn, rủi ro về giá và nâng cao hiệu quả sản xuất nông sản sẽ được kiểm soát. Muốn vậy, cần triển khai nhiều giải pháp: Khảo sát vùng sản xuất, lựa chọn hợp tác xã, xây dựng phương án hợp tác, ký kết hợp đồng, bảo đảm phối hợp triển khai phù hợp điều kiện thực tế.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Phước Hiền, trọng tâm của ứng dụng KHCN và kết nối tiêu thụ nông sản là hình thành mối liên kết thực chất giữa doanh nghiệp có nhu cầu với địa phương có điều kiện, lợi thế về sản xuất, giúp khai thác tốt tiềm năng nông nghiệp, nâng cao giá trị sản phẩm và mang lại hiệu quả cao hơn cho nông dân.
Trong thời gian tới, các xã phối hợp, tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tham gia ứng dụng KHCN trong sản xuất và kết nối tiêu thụ nông sản; tính toán phương án bảo đảm quyền lợi và an toàn, nhất là khi xảy ra thiên tai hoặc biến động về giá. Các hợp tác xã, tổ hợp tác phát huy vai trò đầu mối liên kết giữa doanh nghiệp và người dân; tập hợp các hộ dân sản xuất theo vùng, tuân thủ quy trình kỹ thuật và thực hiện cam kết trong liên kết; phối hợp doanh nghiệp trong tổ chức thu mua, tiêu thụ sản phẩm, góp phần hình thành chuỗi sản xuất ổn định. Sở Nông nghiệp và Môi trường đồng hành, hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương rà soát, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thu nhập và tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp.