Vai trò, trách nhiệm của KOL đối với công chúng và thị trường

Với sự vụ mới nhất là khởi tố điều tra KOL, doanh nhân Hoàng Hường, chúng ta có thể nói gì về nghịch lý từ nổi tiếng trở nên tai tiếng? Từ đó, có thể bàn thêm về vai trò cũng như trách nhiệm xã hội và pháp lý của các KOL đối với công chúng và thị trường.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập.
Luật sư Nguyễn Tiến Lập.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập, Thành viên Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), chia sẻ góc nhìn trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

- Thưa luật sư, chỉ trong thời gian không lâu, nhiều nhân vật nổi tiếng, có khả năng tác động, gây ảnh hưởng đến quyết định của công chúng trong marketing (KOL) đã bị bắt liên quan đến các vi phạm trong hoạt động kinh doanh, quảng cáo, lừa dối khách hàng. Mới nhất là vụ việc của Hoàng Hường. Ở góc nhìn của một luật sư, xin ông phân tích về trách nhiệm xã hội và sau đó về pháp lý của KOL trong chuỗi bán, quảng bá và tiêu dùng hàng hóa?

- Trước khi bàn về câu chuyện vụ án, tôi thấy cần làm rõ khái niệm KOL. Đó là tên viết tắt tiếng Anh chỉ những người có ảnh hưởng lớn với công chúng, đặc biệt trên mạng xã hội, có khả năng dẫn dắt dư luận. Tên gọi này thực ra đã có từ rất lâu ở phương Tây, khởi thủy trong ngành truyền thông–xã hội học mà không phải lĩnh vực quảng cáo hay tiếp thị. Rồi chúng ta cũng nói đến nhóm người tương tự gọi là “nhân vật của công chúng”, thường là các nghệ sĩ, ngôi sao thể thao, danh nhân, là những người có các thành tích nổi bật được tôn vinh, trải qua thời gian nhất định được xã hội đánh giá và công nhận như là một giá trị điển hình hay thậm chí cao quý, được mọi người ca tụng và gửi gắm niềm tin. Trong giai đoạn đó, các KOL đương nhiên không nhiều vì không dễ trở thành, được giới chuyên môn và xã hội lựa chọn kỹ càng. Bản thân các KOL cũng luôn phải giữ mình và cẩn trọng trong phát ngôn, hành động với ý thức về trách nhiệm xã hội rất cao.

Ngày nay, trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt với sự bùng nổ của mạng xã hội tới mức gần như không thể kiểm soát, các KOL có xu hướng đại chúng hóa, có thể là bất cứ ai, miễn có chút năng khiếu mà chưa hẳn tài giỏi gì. Họ chỉ cần hiểu tâm lý đám đông, biết sử dụng các thủ thuật truyền thông, được thôi thúc bởi các ham muốn và lợi ích cá nhân, lại được giới kinh doanh sử dụng, khai thác triệt để cho động cơ bán hàng và làm giàu. Từ đó, có nhiều người từ vô danh, thậm chí xuất thân bình thường và không có công trạng gì nhưng chỉ một thời gian ngắn đã được cư dân mạng tung hô là thần tượng hay KOL.

Hiện tượng đó có gì hay, dở ? Theo tôi là cả hai, chưa muốn nói là cái dở sẽ đến nhanh hơn trong nhiều trường hợp trong môi trường mở rộng tự do, vượt tầm kiểm soát của xã hội nói chung. Tuy nhiên, cũng cần tỉnh táo và khách quan để đánh giá rằng đó là những điều không tránh khỏi vì là các hệ quả tự nhiên của thời cuộc. Có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận nó trước, rồi mới hy vọng tác động để uốn nắn hay điều chỉnh trên cơ sở nhận thức đúng, đủ vì các giá trị và lợi ích lành mạnh chung của cộng đồng.

Đối với sự vụ cô Hoàng Hường, báo chí chính thống đưa tin cô ấy bị khởi tố, điều tra về các tội phạm thuế và tài chính. Còn tôi biết tên cô ấy qua các hoạt động làm từ thiện đình đám và khá ấn tượng hơn là việc kinh doanh và tiếp thị hàng hóa. Và qua cả truyền thông chính thống lẫn mạng xã hội, dường như Hoàng Hường còn rất trẻ nhưng đã nhanh chóng trở thành một KOL thật sự, tính bằng số lượng người theo dõi và tương tác trên mạng xã hội, cả người mua, dùng sản phẩm là khách hàng, mặc dù ở Việt Nam chẳng có và cũng chẳng cần có một sự công nhận chính thức nào.

Cho nên, nếu đặt vấn đề về quy trách nhiệm xã hội hay pháp lý cho các KOL như Hoàng Hường thì theo tôi cần làm rõ hai vấn đề:

Một là, người được coi là KOL đó có ý thức chủ động về vị trí, sức ảnh hưởng và vai trò xã hội của mình hay không ? Lý do đơn giản là nếu họ có hành động sai, thậm chí gây hậu quả một cách vô thức thì về nguyên tắc chúng ta không thể đơn giản buộc hay quy trách nhiệm được. Tôi không có cơ hội tiếp cận Hoàng Hường và sự vụ của cô ấy nên không thể kết luận. Tuy nhiên, lưu ý rằng ngoài sự đánh giá độc lập của giới chuyên môn thì trong luật học còn có một cách tiếp cận vấn đề, đó là anh không thể biện hộ bằng nói mình không biết nếu đó là việc anh buộc phải biết. Khi đó, anh vẫn phải chịu trách nhiệm.

Hai là, các hậu quả vật chất thực tế mà một KOL đã gây ra cho xã hội là gì ? Nó có đủ lớn và đủ rộng, đủ nguy hại, đến mức được nâng cấp từ trách nhiệm xã hội nói chung như là phạm trù đạo đức thành trách nhiệm pháp lý hay không? Về điều này, từ góc nhìn luật học, chúng ta phải có bằng chứng mà không thể suy xét chủ quan. Có nghĩa rằng, phải xác định được đối tượng bị hại và các thiệt hại họ phải chịu, sau đó đương nhiên là mối quan hệ nhân quả giữa các vị trí, vai trò KOL đã được sử dụng, khai thác và các hành vi, hậu quả xảy ra.

Dù thế nào, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, trong thời đại mới này, đã đang và sẽ có rất nhiều các hiện tượng xảy ra vốn không có tiền lệ trong cả thực tiễn và nhận thức, thậm chí ngoài sức tưởng tượng. Vấn đề là chúng ta cần bình tĩnh để xem xét và đánh giá, cốt làm sao kiểm soát được mà không phải cấm đoán.

Đối với các hành vi thái quá gọi là vi phạm phải trừng phạt thì cũng không nên chỉ lên án hay bác bỏ một chiều, từ đó xác lập các định kiến xã hội quá sớm một cáchkhông cần thiết, tạo hiệu ứng không hỗ trợ mà cản trở sự phát triển chung. Nói nôm na là chúng ta “cần đánh chuột nhưng tránh làm vỡ bình”.

- Liệu có tồn tại một khoảng trống trong các quy định hiện hành đối với KOL trong các hoạt động nói trên? Cũng như với thị trường số, thưa ông?

- Câu hỏi này rất kinh điển trong cách tiếp cận chung, tức là khi có vấn đề gì đó có tính chất vi phạm pháp luật phát sinh thì việc đầu tiên là chúng ta đi tìm lỗ hổng hay khoảng trống về pháp luật. Tiếp đến là khắc phục bằng cách sửa đổi, bổ sung hay ban hành các quy định mới. Riêng tôi, mặc dù là một người hành nghề luật lâu năm, lại có cách nhìn khác. Đó chính là câu hỏi rằng pháp luật trên văn bản có thực sự đi vào cuộc sống hay không, hay khái quát hơn, ý chí quản lý xã hội của chúng ta có thể được hiện thực hóa đến đâu ?

Về chủ đề bàn luận, trong bất cứ nền kinh tế thị trường nào đều có hai đạo luật có ý nghĩa quan trọng hàng đầu và vô cùng thiết thực. Đó là Luật Quảng cáo và Luật Bảo vệ người tiêu dùng. Tiếp thu kinh nghiệm các nước, ngay khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, từ năm 1999 chúng ta đã ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 và năm 2001 có luật về quảng cáo, tất cả ban đầu là Pháp lệnh, sau đó nâng lên thành Luật do Quốc hội ban hành với nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho đến nay. Thậm chí, để tương thích với bối cảnh chuyển đổi số, các luật có liên quan nói trên đều đã được cập nhật theo hướng bao phủ rộng hơn, điều chỉnh chi tiết, tinh vi hơn các hành vi có liên quan của tổ chức, cá nhân. Đương nhiên, bên cạnh đó, chúng ta còn có các khung pháp luật khác nữa về kiểm soát báo chí, truyền thông xã hội, giao dịch điện tử và phòng chống hàng giả v.v.. song hành với các bộ luật về xử phạt hành chính và truy cứu hình sự rất hoàn chỉnh.

Tôi không nghĩ chúng ta có lỗ hổng hay khoảng trống nào cần lấp đầy về phương diện lập pháp để điều chỉnh các hành vi của KOL. Tuy nhiên, từ góc độ thực thi, sự hiểu biết để áp dụng pháp luật nói chung nhằm quản lý, vận hành xã hội, chắc chắn còn khá nhiều vấn đề”.

Về các KOL, tôi không cho rằng chúng ta cần phải có biện pháp hay cơ chế đặc thù nào để quản lý nhóm đối tượng này. Đơn giản là chưa nói đến hành vi hay vi phạm mà để định nghĩa họ là ai thì đã thành vấn đề rồi. Trên tất cả, chúng ta chỉ cần kiểm soát chặt chẽ ở mức cần thiết hai lĩnh vực quảng cáo và bảo vệ người tiêu dùng là đủ.

Về quảng cáo, với cấp độ phát triển của đời sống ở cấp độ tinh vi, phong phú và đa dạng như hiện nay, các cơ quan chức năng không thể chạy theo các hiện tượng đơn lẻ phát sinh mà cần dựa vào các tiêu chí có tính xu hướng cơ bản. Chẳng hạn, tôi thấy lĩnh vực thuốc và phương pháp chữa bệnh vốn rất nhạy cảm, nhưng thay vì quảng cáo một cách thô sơ, nhiều doanh nghiệp sử dụng các chuyên gia là bác sĩ hay dược sĩ để tư vấn và trả lời phỏng vấn thường xuyên và rộng rãi, tương tự như hoạt động công ích mà thực chất đầu ra cuối cùng chính là quảng cáo và bán hàng. Vậy thì theo kinh nghiệm các nước, khi có dấu hiệu đó, cơ quan chức năng không xem xét nội dung mà chỉ cần điều tra mối quan hệ tài chính giữa chuyên gia và doanh nghiệp xem có sự chi trả nào không ? Nếu có, thì xác định đó là quảng cáo thương mại và bị ràng buộc theo quy định.

Về bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta cần khuyến khích, tạo điều kiện hơn nữa để người tiêu dùng, với vị trí là đối tượng bị hại của quảng cáo, tiếp thị sai trái, thực hiện các quyền của mình. Không chỉ là quyền được thông tin trung thực, đầy đủ, mà còn quyền khiếu nại và khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, bao gồm cả khiếu kiện tập thể. Ở các nước, chính người tiêu dùng và các Hiệp hội của họ mới là người giám sát hiệu quả nhất các hành vi vi phạm về quảng cáo, tiếp thị, đặc biệt hành vi sai phạm của các KOL, thay cho công sức, vất vả và tốn kém của các cơ quan chức năng.

Có nghĩa là các vấn đề đặt ra không mới với thực tiễn kinh tế thị trường nói chung. Chúng ta là người đi sau thì chỉ cần tham khảo kinh nghiệm các nước là có thể xử lý được.

hoang-huong.jpg
Doanh nhân Hoàng Hường (bên phải, đeo kính) từ nghĩa cử đến vòng lao lý.

- Những KOL có quyền lực lớn khi có khả năng tác động đến nhận thức, dẫn dắt quyết định của số đông người trong xã hội. Quyền lực ấy có đi kèm với nghĩa vụ và trách nhiệm như thế nào? Làm sao có hàng rào pháp lý đủ mạnh để các KOL hoạt động được đúng đắn, thưa ông?

Tôi hoàn toàn đồng ý với nguyên lý chung, đó là quyền lực lớn phải đi với trách nhiệm lớn. Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống phong phú và linh hoạt thì cần sự diễn giải và thực thi điều đó thế nào ? Một khi cấp độ phát triển thị trường của chúng ta còn ở giai đoạn mạnh nha với các tiêu chí, tiêu chuẩn chuyên nghiệp còn chưa hình thành đầy đủ thì xin hãy đừng vội quy những người như cô Hoàng Hường là nhóm KOL nhằm đối xử đặc biệt về phương diện quản lý hay pháp lý. Thay vào đó, với mặt bằng là khung pháp lý hiện hành, chúng ta hoàn toàn có thể phân định rõ ràng và minh bạch các lĩnh vực và hành vi có liên quan như sau:

Thứ nhất, về các hoạt động từ thiện vốn được nhiều cá nhân tiến hành và khai thác ở giai đoạn đầu khi xây dựng hình ảnh cá nhân và uy tín xã hội. Nếu đó là huy động các đóng góp xã hội để làm từ thiện thì có vẻ sau một số sự vụ của những năm qua, các cơ quan chức năng đã “chiếu đèn pha” và kiểm soát khá chặt chẽ hoạt động này, bao gồm cả răn đe và xử lý sai phạm bằng luật hình sự. Tuy nhiên, với các đối tượng sử dụng tiền, vật chất cá nhân ở mức độ lớn và thường xuyên thì tại sao chúng ta không chất vấn về nguồn tiền đó từ đâu và có hợp pháp hay không? Ví dụ như nếu cô Hoàng Hường mang tiền cá nhân đi cho người nghèo thì yêu cầu đó phải là các khoản thu nhập sau thuế. Tức mục tiêu đặt ra là loại trừ các thủ đoạn của bất cứ ai sử dụng tiền gian, tiền bẩn làm từ thiện cốt rửa sạch và đánh bóng hình ảnh.

Thứ hai, về quảng cáo, giới thiệu, tư vấn và tiếp thị sản phẩm. Tại sao chúng ta không kiểm soát chặt chẽ về nội dung thể hiện có liên quan? Chẳng hạn, có cán bộ quản lý nói với tôi rằng, sẽ xử phạt KOL về giới thiệu sản phẩm mà mình chưa từng sử dụng vì đó là lừa đảo. Tôi không đồng ý vì nếu đã coi đó là quảng cáo thì đương nhiên phải thừa nhận các thủ thuật hay kỹ thuật thể hiện đặc trưng của nó, tức người ta có thể nói quá, nói khác về cá nhân, nhưng nội dung về sản phẩm thì phải đầy đủ và trung thực.

Thứ ba, vì quảng cáo, tiếp thị là hoạt động thiết yếu hàng ngày của các doanh nghiệp, không cơ quan nào cần, nên và có thể kiểm soát tất cả. Thay vào đó cần tập trung nguồn lực vào trọng điểm, nhưng không phải để quản lý về cá nhân, tức các KOL mà là kiểm soát các giao dịch có liên quan như các giao dịch lớn và có ý nghĩa quan trọng. Chẳng hạn, đó là việc quảng cáo sản phẩm mới mà người tiêu dùng chưa có kinh nghiệm kiểm chứng, sản phẩm có số lượng lớn người mua hay sản phẩm cho trẻ em, người già, sản phẩm mang lại doanh thu lớn về tài chính v.v..

Nếu biết cách quản lý thích hợp, chúng ta sẽ giải quyết được vấn đề ngay từ các khâu ban đầu bằng sự chấn chỉnh kịp thời. Thay cho việc ai cũng biết nhưng cứ để cho nó diễn biến tự nhiên, khi phát triển đến quy mô thật lớn và phức tạp rồi, cực chẳng đã, buộc phải áp chế biện pháp mạnh bằng hình sự hóa”.

- Những KOL thường là người hoạt ngôn, có khả năng độc thoại cao song họ cũng có nguy cơ bị say trong hào quang mà ngộ nhận không biết đến giới hạn của pháp luật cũng không đo lường được tác động và giới hạn của người tiếp nhận thông tin. Vậy, theo ông có giải pháp gì để giúp cho chính những KOL cũng như xã hội tránh khỏi những rủi ro pháp lý đáng tiếc?

- Ý kiến này rất hay, vì chạm đến các ranh giới của nhận thức và các giá trị văn hóa, đạo đức cá nhân và xã hội. Trong điều kiện nhiều sự việc, lĩnh vực còn chưa phát triển đến độ chín muồi, tôi tin rằng có nhiều cá nhân có tài nhưng đã sử dụng cái tài ấy của mình không đúng cách. Chẳng hạn, họ thực hành nhiều việc không đúng pháp luật, nhưng cuối cùng vẫn tạo nên tiền bạc và tài sản lớn, coi đó là sự thành đạt. Họ còn được xã hội thừa nhận, thậm chí được tôn vinh một cách chính thống, được dư luận cổ vũ nên ngày càng tự tin. Bắt đầu từ đó, sẽ có hai khuynh hướng hành xử chính. Thứ nhất, nhóm ngộ nhận hay tin mình hoàn toàn không làm gì sai cả, họ có lòng trắc ẩn và mang kết quả thành công về tiền bạc, vật chất của mình chia sẻ với người khác qua hoạt động từ thiện. Thứ hai, nhóm biết mình làm sai, ít tự tin hơn nhưng khôn ngoan nên sẽ dùng hoạt động chia sẻ, từ thiện tạo các thành tích xã hội, thực chất là một thủ đoạn để che chắn, tự vệ trước các rủi ro từ pháp luật.

Cả hai khuynh hướng trên cần được coi là các diễn biến bình thường của đời sống. Từ phía quản lý nhà nước, trên cơ sở thấu hiểu và thừa nhận thực tế, theo tôi cần có hai biện pháp ứng xử. Đó là trước hết, với các KOL, cần khẳng định đó là những người có năng lực vượt trội hay thậm chí tài năng để giữ gìn và phát huy. Tuy nhiên, nếu những người còn ở giai đoạn hành xử bản năng, tức kém hiểu biết thì cần có các giải pháp hỗ trợ về kiến thức pháp luật cho họ đi kèm với nhắc nhở, cảnh báo và chấn chỉnh. Còn đối với những người hành động với các sai phạm cố ý, vì lợi ích cá nhân thay cho đóng góp cộng đồng, nên áp dụng các biện pháp chế tài đủ mạnh để loại trừ và răn đe.

Là một luật sư, ngay cả với sự vụ cô Hoàng Hường, tôi rất mong sẽ có sự công khai minh bạch về thông tin. Tức là nếu có thể thì công khai thông tin ngay từ khâu khởi tố, điều tra các vụ việc liên quan các KOL, còn không thì ở giai đoạn xử án sau đó, để lấy đó làm bài học bổ ích cho các KOL nói chung cũng như cả xã hội”.

- Nhìn rộng hơn, xin luật sư có thể đề xuất những giải pháp giúp phát triển mạng xã hội nói chung cũng như thương mại điện tử và kinh doanh số nói riêng một cách lành mạnh?

- Để đề xuất các giải pháp quản lý sẽ cần thời gian và không gian vì đó là hoạt động chuyên nghiệp. Tuy nhiên, với các suy ngẫm thường xuyên của mình, tôi xin được chia sẻ ý kiến ở cấp độ định hướng. Trước hết, trong bối cảnh thực tiễn cuộc sống đang vận hành và thay đổi nhanh chóng như hiện nay, cần buộc phải chấp nhận một mức độ nhất định khó tránh khỏi của các lệch lạc, sai trái so với chuẩn mực chung, thậm chí cả các vi phạm chưa nguy hiểm cho xã hội xét từ góc độ tuân thủ pháp luật. Từ đó, tránh hay giảm thiểu các biện pháp quản lý nhất thời, thái quá hay cực đoan mà nếu áp dụng rất có thể lại làm phát sinh các hệ lụy khác phải giải quyết về lâu dài.

Riêng trong lĩnh vực mạng xã hội nói chung và thương mại điện tử nói riêng, đó vẫn là vấn đề mới và phức tạp đối với tất cả các nước, không riêng Việt Nam. Do đó, nếu từ các e ngại mà siết chặt quản lý bằng cách phình to bộ máy hành chính và biên chế, tôi e rằng, hoặc sẽ dẫn đến gánh nặng cho ngân sách, hoặc dù có tăng cường kiểm soát, vẫn không đạt được hiệu quả như mong muốn. Bởi bối cảnh mới nên chúng ta cần tư duy và cách tiếp cận mới. Việc nâng cao nhận thức xã hội, tức của những người dùng mạng xã hội, người tiêu dùng hay công dân số để tự nhận thức rủi ro và tự bảo vệ, nên là giải pháp hàng đầu. Thêm vào đó, tôi cho rằng cần thiết lập các mối quan hệ đối tác công tư trong quản lý giữa Nhà nước và các doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt các tập đoàn lớn để tranh thủ các giải pháp công nghệ nhằm giám sát và quản lý xã hội trong môi trường không gian ảo.

Đó dường như cũng là xu hướng chung đang diễn ra hoặc được thử nghiệm ở các nước.

- Xin trân trọng cảm ơn luật sư!

Có thể bạn quan tâm

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.

Việc Chính phủ nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế lên 1 tỷ đồng là động lực khiến nhiều hộ kinh doanh quan tâm hơn tới việc quản lý doanh thu, vận hành kinh doanh bài bản. Ảnh: Thành Đạt

Thúc đẩy lòng trung thực trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm là chính sách thể hiện rõ chủ trương đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình CSI 2026 phát biểu tại Lễ phát động.

Nối dài hành trình đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Hành trình 11 năm không chỉ là dấu mốc về mặt thời gian, mà còn cho thấy sự kiên định của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.

Dù là ngành có nhiều đặc thù trong công tác quản lý, song cơ quan hải quan đang là đầu mối chủ trì rà soát toàn diện các văn bản quy phạm “xương sống” trình Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành nhằm loại bỏ tận gốc các điều kiện kinh doanh bất hợp lý.

Chuyển mạnh sang quản lý rủi ro

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số.

Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới”.

Trao quyền để đột phá

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).

Chi phí đầu vào gia tăng sẽ lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ, làm gia tăng áp lực lạm phát, gia tăng gánh nặng trên vai người tiêu dùng. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Thách thức lớn với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong trường hợp giá dầu tiếp tục leo thang do căng thẳng Trung Đông kéo dài, theo nhận định của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), yếu tố này có thể làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng thêm khoảng từ 1 đến 2 điểm %. Khi đó, việc kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đề ra cho năm nay sẽ càng gia tăng tính thách thức.

Cửa hàng thí điểm kinh doanh xăng E10 tại phố Nghĩa Tân (Hà Nội) của Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) đã thực hiện cung cấp xăng E10 từ tháng 8/2025. (Ảnh: Nguyễn Hùng)

Sẵn sàng sử dụng rộng rãi xăng E10 trên toàn quốc

Sau gần một thập kỷ triển khai xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 5% (E5), việc đưa xăng sinh học có tỷ lệ phối trộn 10% (E10) ra thị trường trên diện rộng từ đầu tháng 4 này là một quyết định chiến lược của Việt Nam, với kỳ vọng giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, tăng sự chủ động nguồn cung xăng dầu.

Ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia đầu tư. (Trong ảnh: Đường dẫn nút giao IC5 vào cao tốc Cần Thơ-Cà Mau).

Áp lực lớn trong khai mở các kênh vốn đầu tư

Trong bối cảnh thị trường vốn trong nước còn hạn chế và nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh ngày càng lớn, chính sách tài chính được kỳ vọng đóng vai trò trung tâm trong việc khơi thông và phân bổ hiệu quả các dòng vốn đầu tư phát triển.

Toàn cảnh lễ phát động Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” do VCCI tổ chức tại Hà Nội, ngày 20/3/2026. Ảnh: Nguyễn Hùng

Mở không gian kết nối, thúc đẩy hành động vì mục tiêu Net Zero

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu chuyển mạnh từ nguy cơ dài hạn thành sức ép hiện hữu đối với mọi nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng xanh, phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) không còn là lựa chọn, mà trở thành chuẩn mực phát triển mới, buộc các quốc gia phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.

Với việc chủ động lên kịch bản ứng phó kịp thời, hiện tại, Nhà nước và các doanh nghiệp đầu mối cơ bản bảo đảm nguồn cung ổn định, đáp ứng nhu cầu xã hội về xăng dầu. (Ảnh Văn Hiệp)

Chủ động củng cố an ninh năng lượng quốc gia

Trong mỗi cuộc khủng hoảng địa chính trị, thách thức không chỉ là giá dầu hay cước vận tải tăng cao, mà là năng lực thích ứng chiến lược trong một trật tự kinh tế toàn cầu ngày một bất định, khó lường.

chuyên gia kinh tế, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long.

Kiềm chế lạm phát, giữ nhịp tăng trưởng

Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, trong bối cảnh xung đột Trung Đông, bài toán điều hành không chỉ là giữ ổn định giá nhiên liệu, mà còn là ngăn cú sốc bên ngoài lan thành mặt bằng giá mới trong nước; vừa kiềm chế lạm phát, vừa giữ nhịp sản xuất, kinh doanh.

Tuyến Metro số 5 được kỳ vọng hiện thực hóa mô hình đô thị TOD kết nối metro ở khu vực phía Tây Hà Nội.

Sửa đổi Luật Đất đai: Cần một cách làm toàn diện và khoa học

Trong bất cứ nền kinh tế nào, đất đai vẫn luôn là nguồn lực nền tảng, vừa là yếu tố sản xuất, vừa là tài sản tích lũy, vừa là công cụ tài chính. Với mục tiêu phát triển mới của đất nước, chúng ta cần có một chính sách đất đai mới. Và việc sửa đổi Luật Đất đai, một khi được tiến hành, phải đặt trong tầm nhìn đó.

Một trong những động lực quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới chính là sức mua tiêu dùng nội địa được tạo ra từ niềm tin vào hàng hóa trong nước. (Ảnh Thành đạt)

Đòi hỏi tất yếu để cải cách nền kinh tế

Chúng ta bước vào năm 2026 với nhiều thay đổi quan trọng cho 5 năm tới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã kết thúc thành công. Đại hội đã giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn mà cuộc sống cũng như nền kinh tế đặt ra.

Viettel không chỉ là nhà cung cấp hạ tầng viễn thông, mà còn là biểu tượng của năng lực phục vụ và độ tin cậy. (Ảnh Thành Đạt)

Hạ tầng mới của kỷ nguyên số


Hai thập niên qua chứng kiến sự trỗi dậy của “nền kinh tế chú ý”, trong đó sự chú ý của công chúng trở thành tài nguyên chiến lược.

Dự án cao tốc bắc - nam đoạn Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đang được chủ đầu tư và các nhà thầu gấp rút hoàn thiện, quyết tâm đưa vào khai thác trước Tết Nguyên đán 2026. (Nguồn ảnh BQLDA II - Bộ Xây dựng)

Xuân công trường song hành cùng đất nước

Không chỉ những ngày cuối tháng Chạp Ất Tỵ mà xuyên suốt dịp Tết Bính Ngọ, trên những công trình trọng điểm quốc gia, hàng chục nghìn kỹ sư, công nhân bám trụ công trình với quyết tâm cao nhất để rút ngắn thời gian về đích.

Chiến dịch Không 1 mình do Liên minh Niềm tin số khởi xướng với mục tiêu nâng cao nhận thức, kỹ năng an toàn số của trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.

Số hóa mới chỉ là bước đầu

Thách thức cốt lõi của xã hội số hiện nay có lẽ không nằm ở tốc độ công nghệ, mà ở khả năng duy trì và tái thiết niềm tin xã hội. Và trong tiến trình đó, “tính người” không phải là yếu tố bổ trợ, mà chính là biến số trung tâm quyết định chất lượng quản trị.