Vai trò, trách nhiệm của KOL đối với công chúng và thị trường

Với sự vụ mới nhất là khởi tố điều tra KOL, doanh nhân Hoàng Hường, chúng ta có thể nói gì về nghịch lý từ nổi tiếng trở nên tai tiếng? Từ đó, có thể bàn thêm về vai trò cũng như trách nhiệm xã hội và pháp lý của các KOL đối với công chúng và thị trường.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập.
Luật sư Nguyễn Tiến Lập.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập, Thành viên Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), chia sẻ góc nhìn trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

- Thưa luật sư, chỉ trong thời gian không lâu, nhiều nhân vật nổi tiếng, có khả năng tác động, gây ảnh hưởng đến quyết định của công chúng trong marketing (KOL) đã bị bắt liên quan đến các vi phạm trong hoạt động kinh doanh, quảng cáo, lừa dối khách hàng. Mới nhất là vụ việc của Hoàng Hường. Ở góc nhìn của một luật sư, xin ông phân tích về trách nhiệm xã hội và sau đó về pháp lý của KOL trong chuỗi bán, quảng bá và tiêu dùng hàng hóa?

- Trước khi bàn về câu chuyện vụ án, tôi thấy cần làm rõ khái niệm KOL. Đó là tên viết tắt tiếng Anh chỉ những người có ảnh hưởng lớn với công chúng, đặc biệt trên mạng xã hội, có khả năng dẫn dắt dư luận. Tên gọi này thực ra đã có từ rất lâu ở phương Tây, khởi thủy trong ngành truyền thông–xã hội học mà không phải lĩnh vực quảng cáo hay tiếp thị. Rồi chúng ta cũng nói đến nhóm người tương tự gọi là “nhân vật của công chúng”, thường là các nghệ sĩ, ngôi sao thể thao, danh nhân, là những người có các thành tích nổi bật được tôn vinh, trải qua thời gian nhất định được xã hội đánh giá và công nhận như là một giá trị điển hình hay thậm chí cao quý, được mọi người ca tụng và gửi gắm niềm tin. Trong giai đoạn đó, các KOL đương nhiên không nhiều vì không dễ trở thành, được giới chuyên môn và xã hội lựa chọn kỹ càng. Bản thân các KOL cũng luôn phải giữ mình và cẩn trọng trong phát ngôn, hành động với ý thức về trách nhiệm xã hội rất cao.

Ngày nay, trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt với sự bùng nổ của mạng xã hội tới mức gần như không thể kiểm soát, các KOL có xu hướng đại chúng hóa, có thể là bất cứ ai, miễn có chút năng khiếu mà chưa hẳn tài giỏi gì. Họ chỉ cần hiểu tâm lý đám đông, biết sử dụng các thủ thuật truyền thông, được thôi thúc bởi các ham muốn và lợi ích cá nhân, lại được giới kinh doanh sử dụng, khai thác triệt để cho động cơ bán hàng và làm giàu. Từ đó, có nhiều người từ vô danh, thậm chí xuất thân bình thường và không có công trạng gì nhưng chỉ một thời gian ngắn đã được cư dân mạng tung hô là thần tượng hay KOL.

Hiện tượng đó có gì hay, dở ? Theo tôi là cả hai, chưa muốn nói là cái dở sẽ đến nhanh hơn trong nhiều trường hợp trong môi trường mở rộng tự do, vượt tầm kiểm soát của xã hội nói chung. Tuy nhiên, cũng cần tỉnh táo và khách quan để đánh giá rằng đó là những điều không tránh khỏi vì là các hệ quả tự nhiên của thời cuộc. Có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận nó trước, rồi mới hy vọng tác động để uốn nắn hay điều chỉnh trên cơ sở nhận thức đúng, đủ vì các giá trị và lợi ích lành mạnh chung của cộng đồng.

Đối với sự vụ cô Hoàng Hường, báo chí chính thống đưa tin cô ấy bị khởi tố, điều tra về các tội phạm thuế và tài chính. Còn tôi biết tên cô ấy qua các hoạt động làm từ thiện đình đám và khá ấn tượng hơn là việc kinh doanh và tiếp thị hàng hóa. Và qua cả truyền thông chính thống lẫn mạng xã hội, dường như Hoàng Hường còn rất trẻ nhưng đã nhanh chóng trở thành một KOL thật sự, tính bằng số lượng người theo dõi và tương tác trên mạng xã hội, cả người mua, dùng sản phẩm là khách hàng, mặc dù ở Việt Nam chẳng có và cũng chẳng cần có một sự công nhận chính thức nào.

Cho nên, nếu đặt vấn đề về quy trách nhiệm xã hội hay pháp lý cho các KOL như Hoàng Hường thì theo tôi cần làm rõ hai vấn đề:

Một là, người được coi là KOL đó có ý thức chủ động về vị trí, sức ảnh hưởng và vai trò xã hội của mình hay không ? Lý do đơn giản là nếu họ có hành động sai, thậm chí gây hậu quả một cách vô thức thì về nguyên tắc chúng ta không thể đơn giản buộc hay quy trách nhiệm được. Tôi không có cơ hội tiếp cận Hoàng Hường và sự vụ của cô ấy nên không thể kết luận. Tuy nhiên, lưu ý rằng ngoài sự đánh giá độc lập của giới chuyên môn thì trong luật học còn có một cách tiếp cận vấn đề, đó là anh không thể biện hộ bằng nói mình không biết nếu đó là việc anh buộc phải biết. Khi đó, anh vẫn phải chịu trách nhiệm.

Hai là, các hậu quả vật chất thực tế mà một KOL đã gây ra cho xã hội là gì ? Nó có đủ lớn và đủ rộng, đủ nguy hại, đến mức được nâng cấp từ trách nhiệm xã hội nói chung như là phạm trù đạo đức thành trách nhiệm pháp lý hay không? Về điều này, từ góc nhìn luật học, chúng ta phải có bằng chứng mà không thể suy xét chủ quan. Có nghĩa rằng, phải xác định được đối tượng bị hại và các thiệt hại họ phải chịu, sau đó đương nhiên là mối quan hệ nhân quả giữa các vị trí, vai trò KOL đã được sử dụng, khai thác và các hành vi, hậu quả xảy ra.

Dù thế nào, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, trong thời đại mới này, đã đang và sẽ có rất nhiều các hiện tượng xảy ra vốn không có tiền lệ trong cả thực tiễn và nhận thức, thậm chí ngoài sức tưởng tượng. Vấn đề là chúng ta cần bình tĩnh để xem xét và đánh giá, cốt làm sao kiểm soát được mà không phải cấm đoán.

Đối với các hành vi thái quá gọi là vi phạm phải trừng phạt thì cũng không nên chỉ lên án hay bác bỏ một chiều, từ đó xác lập các định kiến xã hội quá sớm một cáchkhông cần thiết, tạo hiệu ứng không hỗ trợ mà cản trở sự phát triển chung. Nói nôm na là chúng ta “cần đánh chuột nhưng tránh làm vỡ bình”.

- Liệu có tồn tại một khoảng trống trong các quy định hiện hành đối với KOL trong các hoạt động nói trên? Cũng như với thị trường số, thưa ông?

- Câu hỏi này rất kinh điển trong cách tiếp cận chung, tức là khi có vấn đề gì đó có tính chất vi phạm pháp luật phát sinh thì việc đầu tiên là chúng ta đi tìm lỗ hổng hay khoảng trống về pháp luật. Tiếp đến là khắc phục bằng cách sửa đổi, bổ sung hay ban hành các quy định mới. Riêng tôi, mặc dù là một người hành nghề luật lâu năm, lại có cách nhìn khác. Đó chính là câu hỏi rằng pháp luật trên văn bản có thực sự đi vào cuộc sống hay không, hay khái quát hơn, ý chí quản lý xã hội của chúng ta có thể được hiện thực hóa đến đâu ?

Về chủ đề bàn luận, trong bất cứ nền kinh tế thị trường nào đều có hai đạo luật có ý nghĩa quan trọng hàng đầu và vô cùng thiết thực. Đó là Luật Quảng cáo và Luật Bảo vệ người tiêu dùng. Tiếp thu kinh nghiệm các nước, ngay khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, từ năm 1999 chúng ta đã ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 và năm 2001 có luật về quảng cáo, tất cả ban đầu là Pháp lệnh, sau đó nâng lên thành Luật do Quốc hội ban hành với nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho đến nay. Thậm chí, để tương thích với bối cảnh chuyển đổi số, các luật có liên quan nói trên đều đã được cập nhật theo hướng bao phủ rộng hơn, điều chỉnh chi tiết, tinh vi hơn các hành vi có liên quan của tổ chức, cá nhân. Đương nhiên, bên cạnh đó, chúng ta còn có các khung pháp luật khác nữa về kiểm soát báo chí, truyền thông xã hội, giao dịch điện tử và phòng chống hàng giả v.v.. song hành với các bộ luật về xử phạt hành chính và truy cứu hình sự rất hoàn chỉnh.

Tôi không nghĩ chúng ta có lỗ hổng hay khoảng trống nào cần lấp đầy về phương diện lập pháp để điều chỉnh các hành vi của KOL. Tuy nhiên, từ góc độ thực thi, sự hiểu biết để áp dụng pháp luật nói chung nhằm quản lý, vận hành xã hội, chắc chắn còn khá nhiều vấn đề”.

Về các KOL, tôi không cho rằng chúng ta cần phải có biện pháp hay cơ chế đặc thù nào để quản lý nhóm đối tượng này. Đơn giản là chưa nói đến hành vi hay vi phạm mà để định nghĩa họ là ai thì đã thành vấn đề rồi. Trên tất cả, chúng ta chỉ cần kiểm soát chặt chẽ ở mức cần thiết hai lĩnh vực quảng cáo và bảo vệ người tiêu dùng là đủ.

Về quảng cáo, với cấp độ phát triển của đời sống ở cấp độ tinh vi, phong phú và đa dạng như hiện nay, các cơ quan chức năng không thể chạy theo các hiện tượng đơn lẻ phát sinh mà cần dựa vào các tiêu chí có tính xu hướng cơ bản. Chẳng hạn, tôi thấy lĩnh vực thuốc và phương pháp chữa bệnh vốn rất nhạy cảm, nhưng thay vì quảng cáo một cách thô sơ, nhiều doanh nghiệp sử dụng các chuyên gia là bác sĩ hay dược sĩ để tư vấn và trả lời phỏng vấn thường xuyên và rộng rãi, tương tự như hoạt động công ích mà thực chất đầu ra cuối cùng chính là quảng cáo và bán hàng. Vậy thì theo kinh nghiệm các nước, khi có dấu hiệu đó, cơ quan chức năng không xem xét nội dung mà chỉ cần điều tra mối quan hệ tài chính giữa chuyên gia và doanh nghiệp xem có sự chi trả nào không ? Nếu có, thì xác định đó là quảng cáo thương mại và bị ràng buộc theo quy định.

Về bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta cần khuyến khích, tạo điều kiện hơn nữa để người tiêu dùng, với vị trí là đối tượng bị hại của quảng cáo, tiếp thị sai trái, thực hiện các quyền của mình. Không chỉ là quyền được thông tin trung thực, đầy đủ, mà còn quyền khiếu nại và khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, bao gồm cả khiếu kiện tập thể. Ở các nước, chính người tiêu dùng và các Hiệp hội của họ mới là người giám sát hiệu quả nhất các hành vi vi phạm về quảng cáo, tiếp thị, đặc biệt hành vi sai phạm của các KOL, thay cho công sức, vất vả và tốn kém của các cơ quan chức năng.

Có nghĩa là các vấn đề đặt ra không mới với thực tiễn kinh tế thị trường nói chung. Chúng ta là người đi sau thì chỉ cần tham khảo kinh nghiệm các nước là có thể xử lý được.

hoang-huong.jpg
Doanh nhân Hoàng Hường (bên phải, đeo kính) từ nghĩa cử đến vòng lao lý.

- Những KOL có quyền lực lớn khi có khả năng tác động đến nhận thức, dẫn dắt quyết định của số đông người trong xã hội. Quyền lực ấy có đi kèm với nghĩa vụ và trách nhiệm như thế nào? Làm sao có hàng rào pháp lý đủ mạnh để các KOL hoạt động được đúng đắn, thưa ông?

Tôi hoàn toàn đồng ý với nguyên lý chung, đó là quyền lực lớn phải đi với trách nhiệm lớn. Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống phong phú và linh hoạt thì cần sự diễn giải và thực thi điều đó thế nào ? Một khi cấp độ phát triển thị trường của chúng ta còn ở giai đoạn mạnh nha với các tiêu chí, tiêu chuẩn chuyên nghiệp còn chưa hình thành đầy đủ thì xin hãy đừng vội quy những người như cô Hoàng Hường là nhóm KOL nhằm đối xử đặc biệt về phương diện quản lý hay pháp lý. Thay vào đó, với mặt bằng là khung pháp lý hiện hành, chúng ta hoàn toàn có thể phân định rõ ràng và minh bạch các lĩnh vực và hành vi có liên quan như sau:

Thứ nhất, về các hoạt động từ thiện vốn được nhiều cá nhân tiến hành và khai thác ở giai đoạn đầu khi xây dựng hình ảnh cá nhân và uy tín xã hội. Nếu đó là huy động các đóng góp xã hội để làm từ thiện thì có vẻ sau một số sự vụ của những năm qua, các cơ quan chức năng đã “chiếu đèn pha” và kiểm soát khá chặt chẽ hoạt động này, bao gồm cả răn đe và xử lý sai phạm bằng luật hình sự. Tuy nhiên, với các đối tượng sử dụng tiền, vật chất cá nhân ở mức độ lớn và thường xuyên thì tại sao chúng ta không chất vấn về nguồn tiền đó từ đâu và có hợp pháp hay không? Ví dụ như nếu cô Hoàng Hường mang tiền cá nhân đi cho người nghèo thì yêu cầu đó phải là các khoản thu nhập sau thuế. Tức mục tiêu đặt ra là loại trừ các thủ đoạn của bất cứ ai sử dụng tiền gian, tiền bẩn làm từ thiện cốt rửa sạch và đánh bóng hình ảnh.

Thứ hai, về quảng cáo, giới thiệu, tư vấn và tiếp thị sản phẩm. Tại sao chúng ta không kiểm soát chặt chẽ về nội dung thể hiện có liên quan? Chẳng hạn, có cán bộ quản lý nói với tôi rằng, sẽ xử phạt KOL về giới thiệu sản phẩm mà mình chưa từng sử dụng vì đó là lừa đảo. Tôi không đồng ý vì nếu đã coi đó là quảng cáo thì đương nhiên phải thừa nhận các thủ thuật hay kỹ thuật thể hiện đặc trưng của nó, tức người ta có thể nói quá, nói khác về cá nhân, nhưng nội dung về sản phẩm thì phải đầy đủ và trung thực.

Thứ ba, vì quảng cáo, tiếp thị là hoạt động thiết yếu hàng ngày của các doanh nghiệp, không cơ quan nào cần, nên và có thể kiểm soát tất cả. Thay vào đó cần tập trung nguồn lực vào trọng điểm, nhưng không phải để quản lý về cá nhân, tức các KOL mà là kiểm soát các giao dịch có liên quan như các giao dịch lớn và có ý nghĩa quan trọng. Chẳng hạn, đó là việc quảng cáo sản phẩm mới mà người tiêu dùng chưa có kinh nghiệm kiểm chứng, sản phẩm có số lượng lớn người mua hay sản phẩm cho trẻ em, người già, sản phẩm mang lại doanh thu lớn về tài chính v.v..

Nếu biết cách quản lý thích hợp, chúng ta sẽ giải quyết được vấn đề ngay từ các khâu ban đầu bằng sự chấn chỉnh kịp thời. Thay cho việc ai cũng biết nhưng cứ để cho nó diễn biến tự nhiên, khi phát triển đến quy mô thật lớn và phức tạp rồi, cực chẳng đã, buộc phải áp chế biện pháp mạnh bằng hình sự hóa”.

- Những KOL thường là người hoạt ngôn, có khả năng độc thoại cao song họ cũng có nguy cơ bị say trong hào quang mà ngộ nhận không biết đến giới hạn của pháp luật cũng không đo lường được tác động và giới hạn của người tiếp nhận thông tin. Vậy, theo ông có giải pháp gì để giúp cho chính những KOL cũng như xã hội tránh khỏi những rủi ro pháp lý đáng tiếc?

- Ý kiến này rất hay, vì chạm đến các ranh giới của nhận thức và các giá trị văn hóa, đạo đức cá nhân và xã hội. Trong điều kiện nhiều sự việc, lĩnh vực còn chưa phát triển đến độ chín muồi, tôi tin rằng có nhiều cá nhân có tài nhưng đã sử dụng cái tài ấy của mình không đúng cách. Chẳng hạn, họ thực hành nhiều việc không đúng pháp luật, nhưng cuối cùng vẫn tạo nên tiền bạc và tài sản lớn, coi đó là sự thành đạt. Họ còn được xã hội thừa nhận, thậm chí được tôn vinh một cách chính thống, được dư luận cổ vũ nên ngày càng tự tin. Bắt đầu từ đó, sẽ có hai khuynh hướng hành xử chính. Thứ nhất, nhóm ngộ nhận hay tin mình hoàn toàn không làm gì sai cả, họ có lòng trắc ẩn và mang kết quả thành công về tiền bạc, vật chất của mình chia sẻ với người khác qua hoạt động từ thiện. Thứ hai, nhóm biết mình làm sai, ít tự tin hơn nhưng khôn ngoan nên sẽ dùng hoạt động chia sẻ, từ thiện tạo các thành tích xã hội, thực chất là một thủ đoạn để che chắn, tự vệ trước các rủi ro từ pháp luật.

Cả hai khuynh hướng trên cần được coi là các diễn biến bình thường của đời sống. Từ phía quản lý nhà nước, trên cơ sở thấu hiểu và thừa nhận thực tế, theo tôi cần có hai biện pháp ứng xử. Đó là trước hết, với các KOL, cần khẳng định đó là những người có năng lực vượt trội hay thậm chí tài năng để giữ gìn và phát huy. Tuy nhiên, nếu những người còn ở giai đoạn hành xử bản năng, tức kém hiểu biết thì cần có các giải pháp hỗ trợ về kiến thức pháp luật cho họ đi kèm với nhắc nhở, cảnh báo và chấn chỉnh. Còn đối với những người hành động với các sai phạm cố ý, vì lợi ích cá nhân thay cho đóng góp cộng đồng, nên áp dụng các biện pháp chế tài đủ mạnh để loại trừ và răn đe.

Là một luật sư, ngay cả với sự vụ cô Hoàng Hường, tôi rất mong sẽ có sự công khai minh bạch về thông tin. Tức là nếu có thể thì công khai thông tin ngay từ khâu khởi tố, điều tra các vụ việc liên quan các KOL, còn không thì ở giai đoạn xử án sau đó, để lấy đó làm bài học bổ ích cho các KOL nói chung cũng như cả xã hội”.

- Nhìn rộng hơn, xin luật sư có thể đề xuất những giải pháp giúp phát triển mạng xã hội nói chung cũng như thương mại điện tử và kinh doanh số nói riêng một cách lành mạnh?

- Để đề xuất các giải pháp quản lý sẽ cần thời gian và không gian vì đó là hoạt động chuyên nghiệp. Tuy nhiên, với các suy ngẫm thường xuyên của mình, tôi xin được chia sẻ ý kiến ở cấp độ định hướng. Trước hết, trong bối cảnh thực tiễn cuộc sống đang vận hành và thay đổi nhanh chóng như hiện nay, cần buộc phải chấp nhận một mức độ nhất định khó tránh khỏi của các lệch lạc, sai trái so với chuẩn mực chung, thậm chí cả các vi phạm chưa nguy hiểm cho xã hội xét từ góc độ tuân thủ pháp luật. Từ đó, tránh hay giảm thiểu các biện pháp quản lý nhất thời, thái quá hay cực đoan mà nếu áp dụng rất có thể lại làm phát sinh các hệ lụy khác phải giải quyết về lâu dài.

Riêng trong lĩnh vực mạng xã hội nói chung và thương mại điện tử nói riêng, đó vẫn là vấn đề mới và phức tạp đối với tất cả các nước, không riêng Việt Nam. Do đó, nếu từ các e ngại mà siết chặt quản lý bằng cách phình to bộ máy hành chính và biên chế, tôi e rằng, hoặc sẽ dẫn đến gánh nặng cho ngân sách, hoặc dù có tăng cường kiểm soát, vẫn không đạt được hiệu quả như mong muốn. Bởi bối cảnh mới nên chúng ta cần tư duy và cách tiếp cận mới. Việc nâng cao nhận thức xã hội, tức của những người dùng mạng xã hội, người tiêu dùng hay công dân số để tự nhận thức rủi ro và tự bảo vệ, nên là giải pháp hàng đầu. Thêm vào đó, tôi cho rằng cần thiết lập các mối quan hệ đối tác công tư trong quản lý giữa Nhà nước và các doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt các tập đoàn lớn để tranh thủ các giải pháp công nghệ nhằm giám sát và quản lý xã hội trong môi trường không gian ảo.

Đó dường như cũng là xu hướng chung đang diễn ra hoặc được thử nghiệm ở các nước.

- Xin trân trọng cảm ơn luật sư!

Có thể bạn quan tâm

Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh sẽ tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. (Ảnh Khiếu Minh)

Bước chuyển trong tư duy quản lý doanh nghiệp nhà nước

Sự thay đổi tư duy quản lý khi chuyển từ “bảo toàn vốn” sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát; từ can thiệp hành chính sang quản trị theo thông lệ thị trường; và từ quản lý theo từng dự án cụ thể sang quản lý theo mục tiêu tổng quát,

Bên cạnh nhiệm vụ giám sát và điều khiển hệ thống điện Thủ đô hoạt động liên tục và ổn định, Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Thành phố Hà Nội còn là nơi theo dõi tình trạng vận hành của các trạm biến áp, đường dây truyền tải và phân phối điện. Ảnh: Thành Đạt

Xây dựng hệ thống điện vững chắc và chủ động

Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra những yêu cầu then chốt cho việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, đồng thời khẳng định tầm nhìn dài hạn về một hệ thống điện thông minh, kết nối khu vực và có khả năng tự bảo vệ trước các rủi ro phức hợp.

Đầu tư công tiếp tục được xác định là lực đỡ quan trọng góp phần khai mở dư địa tăng trưởng kinh tế năm 2026 và những năm tiếp theo. (Trong ảnh: Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây). (Ảnh Hoàng hà)

Khai mở dư địa tăng trưởng kinh tế

Được xem là một năm đặc biệt của đất nước, khi đồng thời hội tụ cả khó khăn, thách thức, nội lực và quyết tâm cải cách, trong năm 2025 vừa qua, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đạt mức, 8,02%, tạo dấu ấn quan trọng trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen.

Việc thành lập sàn giao dịch nên được triển khai theo lộ trình thận trọng, nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, giao dịch vàng.

Không thể lặp lại “vết xe đổ”!

Sau hơn 15 năm kể từ khi chấm dứt hoạt động (năm 2010), các sàn giao dịch vàng, đang được Ngân hàng Nhà nước đề xuất tái lập, lập tức thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và dư luận.

Nông sản Việt Nam còn nhiều dư địa xuất khẩu trong năm 2026. (Ảnh Phong Linh)

Đặt mục tiêu cao hơn trên bản đồ nông sản thế giới

Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm, thủy sản ước đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so cùng kỳ năm 2024 và đạt giá trị cao nhất từ trước đến nay. Sang năm mới, ngành nông nghiệp tập trung vào các mục tiêu thúc đẩy phát triển bền vững.

Nền tảng số đang là con đường ngắn nhất để hàng hóa Việt Nam hiện diện trên các sàn thương mại quốc tế. (Nguồn: Global)

Giải bài toán bảo đảm chủ quyền thuế

Thương mại điện tử Việt Nam, nhất là giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới, đã bùng nổ mạnh mẽ trong thời gian vừa qua, với quy mô thị trường ước khoảng 25 tỷ USD, chiếm gần 10% tổng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cả nước.

Phát triển thị trường trái phiếu theo hướng kéo dài kỳ hạn được xem là giải pháp quan trọng nhằm tạo ra nguồn vốn ổn định, bền vững và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Còn dư địa cho thị trường vốn

Với kịch bản tăng trưởng mà Việt Nam đang quyết tâm thực hiện, nhu cầu vốn cho phát triển trong giai đoạn tới sẽ tăng mạnh, khi tỷ lệ đầu tư công/GDP giai đoạn 2026-2030 nâng lên ít nhất 8% GDP.

Lực lượng bộ đội thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tham gia Chiến dịch Quang Trung, dựng lại nhà cho người dân bị thiệt hại do mưa lũ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. (Ảnh Văn Viễn)

Hiệu lệnh từ một Chính phủ hành động

Chiến dịch Quang Trung không có tiếng súng, song chúng ta phải chiến thắng và chiến thắng giòn giã, để mang lại niềm vui, hạnh phúc cho người dân, nhất là những người không còn nhà ở, có nhà bị hư hỏng sau bão lũ lịch sử.

Từ ngày 1/1/2026, các hộ kinh doanh sẽ chính thức nộp thuế theo phương pháp kê khai thay vì thuế khoán như trước đây. (Ảnh: Đạt Thành)

Bảo đảm công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế

Từ ngày 1/1/2026, các hộ, cá nhân kinh doanh sẽ chính thức nộp thuế theo phương pháp kê khai (tính thuế theo doanh thu), thay vì thuế khoán - một mô hình quản lý đã lỗi thời song vẫn được áp dụng trong hơn ba thập kỷ qua.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc trao hoa tri ân ban hội đồng đánh giá CSI.

CSI - 10 năm kiến tạo, bồi đắp nội lực doanh nghiệp Việt

Chiều ngày 5/12/2025, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), với đầu mối là Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD-VCCI), đã tổ chức Lễ công bố các Doanh nghiệp Bền vững tại Việt Nam 2025 với chủ đề “Chương mới của Kỷ nguyên Xanh”.

Hiện có tới hơn 90% khối lượng hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam là sản phẩm sơ chế. (Ảnh Danh Lam)

Cấp bách gỡ điểm nghẽn thuế VAT

Mang đến nhiều lợi ích cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt đối với khu vực tư nhân, song Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi số 48/2024/QH15 (Luật Thuế VAT) vẫn tồn tại nhiều "rào cản" lớn đối với ngành hàng nông sản xuất khẩu, hàng nông sản đầu vào chưa qua chế biến.

Lựa chọn giữ lại bên mình chiếc xe quen thuộc, nhưng với diện mạo mới, bớt khí thải, không ồn, giảm mùi xăng… là mong muốn có thật của nhiều người dân.

Trách nhiệm với niềm tin

Mới đây, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đã có văn bản gửi Cục Đăng kiểm Việt Nam, đề nghị xem xét xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý để hợp pháp hóa hệ thống chuyển đổi động cơ điện cho xe chạy xăng.

Thực tế, việc cho phép xây dựng kho bãi trên đất nông nghiệp, nếu thiếu kiểm soát, rất có thể bị biến tướng thành nhà ở hoặc cơ sở kinh doanh phi nông nghiệp. (NGUỒN: CAND)

Hiểu đúng để làm đúng!

Quy định “cho phép xây dựng công trình tạm trên đất nông nghiệp” có trong Luật Đất đai 2024 đã mở ra cơ hội thuận lợi cho việc đầu tư sản xuất nông nghiệp.

Mô hình Triple Helix, với sự hợp tác chặt chẽ giữa "Nhà nước-viện/trường-doanh nghiệp" được coi là nền tảng tạo nên sự phát triển bền vững trong lĩnh vực R&D. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Hợp lực "ba nhà" - lời giải của bài toán đầu tư cho R&D

Sau khi Bộ Chính trị ban hành chuỗi nghị quyết mang tính chiến lược, bao phủ từ khoa học-công nghệ, hội nhập, giáo dục đến phát triển năng lượng và kinh tế tư nhân, tinh thần đổi mới sáng tạo trong nước trở nên sôi động hơn bao giờ hết.

Với hai văn phòng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Queensland trở thành bang đầu tiên của Úc thiết lập trung tâm của khu vực tại Việt Nam.

Việt Nam trở thành trọng tâm Chiến lược Đông Nam của Queensland

Tuần này, bang Queensland (Úc) khai trương văn phòng thương mại và đầu tư thứ hai ở Việt Nam, đặt tại Hà Nội. Qua đó, khẳng định Việt Nam là trọng tâm trong chiến lược mở rộng sang Đông Nam Á của Queenssland. Động thái này cũng củng cố vị thế trụ cột của nước ta trong khu vực. 

Diễn đàn Quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ 6.

Nhiều rào cản vẫn chờ gỡ bỏ

Chỉ cách đây chừng 5 năm thôi, chuyển đổi số còn là một khái niệm rất mới mẻ. Khi đó, việc Chính phủ ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia năm 2020 được coi là một quyết sách mạnh mẽ.

Thứ trưởng Tài chính Nguyễn Đức Chi chủ trì buổi họp báo thường kỳ tháng 10 của Bộ Tài chính.

Sớm hoàn thiện khung pháp lý cho tài sản mã hóa

Với nguyên tắc “triển khai thận trọng, có kiểm soát, minh bạch và hiệu quả”, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Từ ngày 15/10/2025 tới đây, Việt Nam sẽ chính thức áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu 15% đối với các doanh nghiệp FDI có doanh thu hợp nhất từ 750 triệu Euro (EUR) trở lên.

Nâng tầm chất lượng dòng FDI

Theo Nghị định số 236/2025/NĐ-CP của Chính phủ về việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, từ ngày 15/10/2025 tới đây, Việt Nam sẽ chính thức áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu 15% đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt doanh thu hợp nhất từ 750 triệu Euro (EUR) trở lên.

Dù EVN đã ban hành quy trình quản lý đối với điện mặt trời tự sản, tự tiêu, song việc triển khai trên thực tế và thủ tục còn nhiều vướng mắc. (Ảnh Ngọc Hà)

Bài 2: Giải mã những góc khuất

Cạnh tranh hóa thị trường bán lẻ điện là cái đích mà bất cứ quốc gia nào cũng đặt mục tiêu tiến tới, dù nhanh hay chậm. Tuy vậy, để tạo dựng một sân chơi thật sự công bằng và sôi động đòi hỏi phải có đầy đủ thể lệ và người chơi dù khỏe hay yếu đều phải tuân thủ nghiêm túc.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, với chính sách miễn giảm 30% tiền thuê đất, người dân và doanh nghiệp cả nước sẽ tiết kiệm được khoảng hơn 4.000 tỷ đồng trong năm 2025.

Nguồn trợ lực mang nhiều ý nghĩa

Mới đây, cơ quan thuế thành phố Hà Nội có thông báo hướng dẫn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân liên quan đến chính sách giảm tiền thuê đất năm 2025 thực hiện các quy định tại Nghị định số 230/2025/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 19/8/2025.

Toàn cảnh Hội thảo phổ biến Nghị định số 242/2025/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 10/9/2025, do Bộ Tài chính tổ chức vào sáng 26/9.

Đơn giản hóa thủ tục quản lý vốn vay ODA

Với nhiều điểm mới về đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, Nghị định số 242/2025/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi nước ngoài được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tạo thuận lợi hơn trong triển khai dự án sử dụng nguồn vốn quan trọng này.

Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 do EVN làm chủ đầu tư, về cơ bản đã hoàn thành đáp ứng tiến độ với gói thầu EPC, tiến độ hòa đồng bộ Tổ máy 1 trong năm 2025 và phát điện các tổ máy trong năm 2026. (Ảnh Ngọc Hà)

Phá vòng “kim cô” trong cung ứng điện năng

Ngày 20/8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045. Nhiệm vụ đặt ra cấp bách, đầy thách thức - phát triển thị trường năng lượng theo hướng tăng tính cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, đồng bộ với bảo đảm an ninh năng lượng.

Thông qua các chương trình hành động cụ thể trong hợp tác trồng rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, Heineken Việt Nam triển khai bù hoàn 690,64 triệu lít nước trong năm 2024 tại lưu vực sông Tiền - đạt mục tiêu sớm 5 năm.

Bảo đảm nguồn nước vì tương lai bền vững

Trước những thách thức ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu và áp lực phát triển kinh tế, việc quản trị và bảo tồn tài nguyên nước đã trở thành yêu cầu sống còn cho tương lai bền vững của Việt Nam.

Đến hết ngày 31/7/2025, số vốn giải ngân tại 12 dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực giao thông vận tải ước chỉ đạt 22.579,5 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 23,5% kế hoạch được giao. (Nguồn: BXD)

Gỡ vướng cho giải ngân đầu tư công

Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều vướng mắc khi cùng lúc triển khai sắp xếp lại đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đã được các bộ, ngành, địa phương nỗ lực đẩy mạnh thực hiện để hỗ trợ tăng trưởng.

Việc sử dụng năng lượng sạch đã dần trở thành yêu cầu tất yếu trong xã hội hiện đại. (Nguồn BTP)

Nhu cầu đã có, vẫn khó thực thi?

Khi việc sử dụng năng lượng sạch không còn là xu hướng mà dần trở thành yêu cầu tất yếu, nhu cầu sở hữu và sử dụng xe điện, cả ô-tô và xe máy, đang có dư địa tăng trưởng lớn.