Vải thiều Lục Ngạn mất mùa

Mùa vải thiều năm 2024 tại Bắc Giang, tỷ lệ cây vải ra hoa, đậu quả rất thấp. Huyện Lục Ngạn có diện tích trồng vải lớn nhất cả nước với hơn 17.300 ha, là cây trồng chủ lực của địa phương. Trong bối cảnh đó, chính quyền địa phương đang khẩn trương đề ra nhiều giải pháp hỗ trợ nông dân ổn định sản xuất, hạn chế ảnh hưởng do cây vải mất mùa...
Ảnh: THÀNH ĐẠT
Ảnh: THÀNH ĐẠT

Sản lượng vải thiều giảm mạnh sẽ ảnh hưởng lớn đến thu nhập và đời sống của người dân, trực tiếp là người dân trồng vải và các hộ sản xuất, kinh doanh mặt hàng phục vụ sản xuất, tiêu thụ, chế biến vải thiều.

Những khó khăn được dự báo

Theo đánh giá của cơ quan chức năng, mùa đông năm 2023-2024 mặc dù vẫn có các đợt lạnh dưới 100C, nhưng so với trung bình nhiều năm thì nền nhiệt cao hơn khoảng 1,50C, điều này đã ảnh hưởng quá trình phân hóa mầm hoa cây vải. Ngoài ra, từ giữa tháng 1 đến giữa tháng 2/2024 lại xuất hiện các đợt không khí lạnh ngắn, kèm theo mưa nhỏ kéo dài khiến độ ẩm không khí, độ ẩm đất lên cao dẫn đến cây vải ra lộc sớm trên diện rộng và làm giảm mật độ ra hoa, tỷ lệ ra hoa vải thiều chính vụ toàn huyện Lục Ngạn chỉ đạt từ 10 đến 20%.

Nhiều năm qua, gia đình ông Ngô Văn Hùng ở thôn Cầu Đền, xã Thanh Hải trồng hơn 2 ha vải thiều đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Những năm trước, bình quân vườn vải này cho thu khoảng gần 200 triệu đồng/năm thì năm nay cả khu vườn gần như mất trắng vì cây không ra hoa. Ông Hùng cho biết, mấy chục năm trồng vải nhưng chưa khi nào vải mất mùa toàn bộ vườn như năm nay, trong khi nguồn thu nhập chính của gia đình đều trông vào cây vải này nên kinh tế của gia đình sẽ gặp khó khăn.

Đến thời điểm hiện tại, gia đình ông Hùng đã ngừng chăm sóc vải để chờ vụ tới. “Vải không ra quả cho nên chúng tôi chỉ thi thoảng phát quang cỏ trong vườn và dừng toàn bộ hoạt động chăm sóc khác như tưới, bón phân, phun thuốc. Để vượt qua giai đoạn khó khăn này, gia đình sẽ tập trung chăm sóc vườn bưởi hơn 5 sào và chú trọng hơn đến chăn nuôi ngựa, gà và trồng ngô với hy vọng có thêm nguồn thu nhập trang trải cuộc sống”, ông Hùng nói.

Cũng như gia đình ông Hùng, năm nay nhiều hộ dân trồng vải trên đất Lục Ngạn gặp tình trạng tương tự. Do vải thiều không ra hoa hoặc tỷ lệ ra hoa, đậu quả đạt rất thấp, cho nên người dân giảm chăm bón cây hoặc tạm ngừng hẳn. Ông Giáp Hồng Đăng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sơn Hải cho biết: “Người dân trên địa bàn xã chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với nguồn thu nhập chính từ cây vải thiều, bên cạnh một phần nhỏ diện tích cấy lúa và trồng ngô, rau màu, trồng rừng.

Do vải mất mùa cho nên cuộc sống của bà con sẽ gặp nhiều khó khăn, một số người đã chủ động tìm việc làm trong các nhà máy, xí nghiệp tại các khu công nghiệp. Chính quyền xã đã tuyên truyền, vận động bà con tập trung trồng, chăm sóc cây ngắn ngày và chăn nuôi gia súc, gia cầm để có thêm thu nhập”.

Kịp thời hỗ trợ nông dân

Theo đồng chí Nguyễn Văn Mạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn, mặc dù tỷ lệ cây vải ra hoa, đậu quả đạt thấp, song trên địa bàn huyện còn một số cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như: Cam, bưởi (diện tích hơn 4.000 ha), 300 ha ổi, 150 ha chuối, 85 ha na và hơn 1.500 ha các loại cây trồng khác (bơ, nho, thanh long, mít, trám, hồng, xoài... với sản lượng khoảng 10 nghìn tấn/năm). Chưa kể, toàn huyện có hơn 4.000 con trâu, hơn 3.700 con bò, gần 15.000 con ngựa, dê, đàn lợn hơn 41.000 con và khoảng 1,4 triệu con gia cầm. Trên cơ sở đó, địa phương sẽ tập trung hỗ trợ phát triển đa dạng các hình thức sản xuất nông nghiệp để giúp người dân nâng cao thu nhập và tiếp tục ổn định đời sống.

Nhận định năm nay tình hình sẽ có nhiều khó khăn, Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã, thị trấn tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng và nâng chất lượng sản phẩm để bù đắp vào sản lượng vải thiều thất thu.

Theo đó, với những diện tích vải thiều đang trong giai đoạn phát triển quả non, cơ quan chuyên môn hướng dẫn, khuyến cáo người dân tập trung các biện pháp chăm sóc, tưới nước đủ ẩm, vệ sinh vườn đồi, tỉa bỏ cành bị sâu bệnh nhằm hạn chế lưu trú của sâu bệnh hại. Đồng thời bón phân cân đối nhằm hạn chế rụng quả, phòng trừ kịp thời sâu bệnh trong giai đoạn đậu quả. Bên cạnh đó, cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân chăm sóc diện tích cây ăn quả khác như: cây có múi, táo, nhãn, na, ổi, chuối, hồng và một số cây lâm nghiệp (măng lục trúc, măng bát độ, trám...). Địa phương cũng chú trọng sản xuất các loại cây rau, màu gồm: khoai lang, ngô, rau các loại, khoai tây...

Lãnh đạo Trung tâm Dịch vụ-Kỹ thuật nông nghiệp huyện Lục Ngạn cho biết, do vải mất mùa cho nên nhiệm vụ xây dựng mô hình sản xuất vải theo hướng hữu cơ tại một số xã trên địa bàn không khả thi, huyện đã linh hoạt chuyển nguồn kinh phí đó sang thực hiện các mô hình hỗ trợ nông dân trồng ngô lai và nuôi gà trống thiến. Đặc biệt, trung tâm đang thực hiện mô hình hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ dưa chuột an toàn quy mô 27 ha/vụ đối với 354 hộ thuộc địa bàn các xã: Cấm Sơn, Tân Sơn, Phong Vân, Hộ Đáp, tổng kinh phí thực hiện hơn 3,1 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước là hơn 1,3 tỷ đồng để hỗ trợ giống, vật tư, còn lại là vốn đối ứng của bên tham gia liên kết. Sản phẩm được một đơn vị ký hợp đồng tiêu thụ ổn định và dự kiến người nông dân sẽ thu lãi hơn 6,4 triệu đồng/sào.

Cũng theo đồng chí Nguyễn Văn Mạnh, huyện Lục Ngạn đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Dịch vụ-Kỹ thuật nông nghiệp sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp nông nghiệp triển khai hỗ trợ người dân các giống cây lương thực ngắn ngày chất lượng cao như: ngô, lúa... Ngoài ra, tích cực lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững hay phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc và miền núi để tập trung hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.

Về chăn nuôi, cơ quan chuyên môn hỗ trợ xây dựng mô hình nuôi dúi, ngựa và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh; tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng trại, kết hợp tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin. Địa phương sẽ tiếp tục quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho nông dân, hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học-kỹ thuật, xây dựng và chuyển giao các mô hình sản xuất, kinh doanh tiên tiến, gắn công tác đào tạo nghề với giải quyết việc làm, góp phần ổn định đời sống nhân dân.

Có thể bạn quan tâm

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính phát biểu tại cuộc họp. (Ảnh: PV)

Quý III/2026, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 4,80%

Trong 9 tháng năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và hoạt động vận tải quốc tế. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nhà máy điện gió bờ tại Gia Lai. (Ảnh: T. THẢO)

Hoàn thiện chính sách cho năng lượng xanh ngoài khơi

Các nguồn năng lượng xanh như điện mặt trời, điện gió, hydrogen… đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu, phát triển. Tại Việt Nam, năng lượng xanh được đánh giá có tiềm năng rất lớn, nhưng chưa được “đánh thức”, nhất là điện gió ngoài khơi do còn nhiều “rào cản” từ chính sách, vốn, nhân lực, cơ sở khoa học, công nghệ…

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang. (Ảnh: ĐỨC AN)

Giữ thị phần nông sản Việt Nam tại ASEAN

ASEAN là thị trường có vị trí thuận lợi và còn nhiều dư địa cho xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, khi các nước trong khu vực nâng cao tiêu chuẩn nhập khẩu thì doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, truy xuất, chứng nhận hàng hóa và tham gia sâu hơn chuỗi giá trị khu vực để giữ vững thị phần.

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

[Infographic] Chứng khoán tuần 28/9-2/10/2026: Thị trường có tuần thứ 2 liên tiếp giảm điểm, khối ngoại tiếp tục bán ròng

Thị trường tuần 28/9-2/10/2026 có 5 phiên liên tiếp giảm điểm với áp lực bán tăng mạnh trong phiên cuối tuần. Kết tuần VN-Index giảm 2,66% về mức 1.737,71 điểm, trên hỗ trợ tâm lý 1.700 điểm. Độ rộng thị trường trong tuần tiêu cực, hầu hết các nhóm ngành đều chịu áp lực điều chỉnh. 

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh CTV)

Triển khai cơ chế đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về kinh tế, khoa học công nghệ

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 1916/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết 37/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. 

Toàn cảnh Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 của EVNNPC. (Ảnh: EVNNPC cung cấp)

EVNNPC phát huy dân chủ, củng cố đồng thuận, tạo động lực phát triển

Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) vừa tổ chức Hội nghị đại biểu người lao động lần thứ VII năm 2026 để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị người lao động lần thứ VI và hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2024-2025, phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2027.

Một dự án hạ tầng lớn có thể gồm nhiều lĩnh vực chuyên sâu, từ thiết kế, xây dựng, cơ điện đến ITS (giao thông thông minh), chiếu sáng, an toàn giao thông và các hệ thống công nghệ. (Ảnh: TRANG LIÊN)

Chọn doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn

Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực để đảm nhận vai trò quản trị các dự án lớn. Nhưng khi đã lựa chọn được doanh nghiệp đủ năng lực, cần trao quyền chủ động tương xứng với trách nhiệm được giao. Sàng lọc đúng năng lực, trao đủ quyền tổ chức và quy trách nhiệm đến cùng là cơ sở để hình thành những tổng thầu mạnh.

Cải cách hành chính được Tây Ninh xác định là nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh tạo dư địa tăng trưởng từ ba khâu đột phá

Nhiệm kỳ 2026-2030, Tây Ninh xác định cải cách hành chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng việc huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng là ba khâu đột phá. Đây được xem là nền tảng để khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất, mở rộng không gian kinh tế và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Tây Ninh.

Tọa đàm với chủ đề “Từ “Made in Vietnam” đến “Made in CPTPP”: Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu”. (Ảnh: KIM DUNG)

Tái cấu trúc nguồn cung, bảo đảm yêu cầu xuất xứ

Thực thi CPTPP mở thêm thị trường cho hàng Việt nhưng đặt ra yêu cầu về nguồn nguyên liệu và xuất xứ. Khi lợi thế thuế quan gắn chặt với khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ, tái cấu trúc nguồn cung, kết nối với các đối tác trong CPTPP và nâng sức chống chịu của chuỗi sản xuất đang trở thành yêu cầu thiết thực đối với doanh nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Sáng nghiên cứu SmartPID Tuner - sản phẩm mang dấu ấn khát vọng làm chủ công nghệ của kỹ sư EVNGENCO1. (Ảnh: PHƯƠNG THẢO)

Từ bài toán vận hành đến làm chủ công nghệ tại EVNGENCO1

Đổi mới sáng tạo tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) không chỉ bắt đầu từ những ý tưởng mới, mà còn từ những bài toán cụ thể trong sản xuất. Khi kỹ sư trực tiếp xử lý vấn đề kỹ thuật của nhà máy và tìm cách giải quyết bằng chính năng lực nghiên cứu của mình, những giải pháp “Make by EVNGENCO1” từng bước được hình thành.