Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Tuấn Bình, nguyên Phó Cục trưởng Cục Y tế, Bộ Công an, việc làm chủ giải pháp công nghệ sát khuẩn nội địa như dung dịch nước muối ion Smart A đang mở ra hướng đi chiến lược, nâng cao năng lực phản ứng nhanh cho ngành quân y.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Tuấn Bình, dung dịch này có khả năng hỗ trợ kiểm soát vi sinh vật bằng cơ chế oxy hóa, đồng thời hạn chế nguy cơ hình thành tình trạng “nhờn thuốc”.
Smart A được sản xuất từ nước sạch và muối tinh khiết (NaCl 0,5%) thông qua công nghệ điện hóa, không sử dụng hóa chất tổng hợp hay chất bảo quản.
Một số kết quả kiểm nghiệm độc lập được dẫn cho thấy sản phẩm có độ an toàn sinh học cao. Cụ thể, Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương và Trường đại học Y Dược Thái Bình ghi nhận sản phẩm không gây kích ứng da, niêm mạc và mắt, đồng thời không ghi nhận độc tính cấp hoặc bán trường diễn trong điều kiện thử nghiệm.
Trong khi đó, Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết các đánh giá bước đầu chưa ghi nhận dấu hiệu gây độc hoặc làm biến đổi cấu trúc tế bào da người. Ngoài ra, Trung tâm Nghiên cứu Virus và Công nghệ sinh học tại Liên bang Nga cũng ghi nhận khả năng hỗ trợ bất hoạt virus cúm gia cầm độc lực cao A/H5N1 trong điều kiện nghiên cứu.
Theo ông Hà Văn Nam, Giám đốc Công ty Ứng dụng khoa học quốc tế, tính phù hợp với thực tiễn bảo đảm an ninh quốc gia của giải pháp công nghệ này đã được kiểm chứng thực tế trong chiều dài 5 năm qua trong cộng đồng. Bắt đầu từ năm 2021, giữa cao điểm đại dịch Covid-19, giải pháp đã trực tiếp tham gia hỗ trợ nhân dân và các lực lượng vũ trang kiểm soát nhiễm khuẩn đường hô hấp, khử trùng bề mặt dã chiến.
Trải qua nửa thập kỷ ứng dụng rộng rãi trên quy mô lớn, hệ thống giám sát y tế cộng đồng chưa từng ghi nhận bất kỳ trường hợp nào bị ngộ độc, dị ứng hay có tác động bất lợi đến sức khỏe của sản phẩm Smart A. Sự kết hợp giữa hiệu năng diệt khuẩn thần tốc và độ an toàn tuyệt đối giúp sản phẩm trở thành một "vũ khí phản ứng nhanh" lý tưởng.
Quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 13485:2016 và ISO 22000:2018 sử dụng 100% nước và muối ăn nội địa, bảo đảm tính tự chủ chiến lược, đập tan rủi ro khi bị cô lập nguồn cung từ nước ngoài.
Để bảo đảm hiệu quả khi đưa vào hệ thống quân y và lực lượng cơ động, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Tuấn Bình, việc triển khai cần được chuẩn hóa quy trình sử dụng, đào tạo thao tác và xác định rõ phạm vi ứng dụng theo từng tình huống.
Trong túi cứu thương dã chiến, sản phẩm được định hướng hỗ trợ xử lý ban đầu các tình huống phơi nhiễm sinh học, vết thương hở hoặc vệ sinh niêm mạc theo hướng dẫn chuyên môn, trước khi chuyển tuyến y tế.
Trong các kịch bản khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh hoặc gián đoạn vật tư y tế, giải pháp này có thể được xem xét như một thành phần trong hệ thống hậu cần cơ động, nhằm tăng khả năng phản ứng nhanh tại chỗ.
Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi, vẫn cần các bước thẩm định chuyên môn, đánh giá độc lập và hướng dẫn sử dụng thống nhất nhằm bảo đảm an toàn, hiệu quả và phù hợp thực tiễn. Bên cạnh đó, công nghệ này được định hướng tiếp tục nghiên cứu ứng dụng trong xử lý vết thương phức tạp, khử khuẩn môi trường, xử lý nguồn nước dã chiến và kiểm soát nhiễm khuẩn trong điều kiện cơ động.