Kế hoạch triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc giai đoạn 2026-2030 vừa được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành thể hiện quyết tâm đưa truy xuất nguồn gốc trở thành nền tảng quan trọng trong phát triển nông, lâm nghiệp bền vững và hội nhập quốc tế.
Kể từ khi mã số vùng trồng rừng được cấp cho diện tích rừng của Đội 821, Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn, anh Trần Mạnh Huấn, Trưởng phòng Kỹ thuật của công ty không còn phải quá vất vả để đi thực tế kiểm tra hiện trạng rừng mà vẫn quản lý, theo dõi được một cách chặt chẽ. Anh Huấn chia sẻ, từ khi diện tích rừng được cấp mã số và gắn mã QR, công tác quản lý thuận lợi hơn rất nhiều.
Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, anh có thể quét mã để nắm đầy đủ thông tin về hiện trạng rừng, hình ảnh, nhật ký chăm sóc, khai thác. Dữ liệu được cập nhật thường xuyên, giúp cho việc chỉ đạo sản xuất chính xác và minh bạch hơn. Phần mềm truy xuất không chỉ hỗ trợ quản lý nội bộ mà còn tạo thuận lợi cho các đối tác.
Khi khách hàng có nhu cầu, họ có thể truy xuất tận gốc quá trình hình thành sản phẩm, điều đó tạo niềm tin và nâng cao giá trị lô hàng. Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực lâm nghiệp, việc ứng dụng công nghệ số, nhất là hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR đang từng bước được mở rộng sang các vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực của tỉnh.
Tại các vùng chuyên canh chè, bưởi, thanh long,… người dân đã chủ động tiếp cận và áp dụng quy trình sản xuất an toàn, đồng thời số hóa thông tin sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế. Ông Đỗ Khắc Thỏa, thôn Soi Hà, xã Xuân Vân cho biết, gia đình ông hiện có gần 4 ha trồng khoảng 200 gốc bưởi Soi Hà, tuổi đời từ 25 đến 30 năm.
Bưởi Soi Hà là sản phẩm nằm trong top 10 thương hiệu nổi tiếng và đã được cấp chỉ dẫn địa lý, khẳng định uy tín và chất lượng trên thị trường. Những năm gần đây, gia đình đẩy mạnh sản xuất theo hướng hữu cơ, áp dụng quy trình VietGAP nghiêm ngặt nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, đủ điều kiện để xuất khẩu sang Vương quốc Anh.
Riêng bưởi xuất khẩu, quy trình thu hoạch được thực hiện chặt chẽ, quả được cắt bằng kéo chuyên dụng, không cắt sát cuống, những quả đạt tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng mới đưa vào đóng gói. Sau đó, sản phẩm được dán tem truy xuất nguồn gốc, bảo đảm đầy đủ điều kiện xuất khẩu theo quy định.
Theo thống kê, toàn tỉnh đã có 149 mã số vùng sản xuất được cấp, trong đó 25 mã phục vụ xuất khẩu sang thị trường Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc; 124 mã nội tiêu đối với các sản phẩm chè, bưởi, thanh long, hồng, nhãn và cây lâm nghiệp. Những con số này cho thấy việc truy xuất nguồn gốc không còn là khái niệm thử nghiệm mà đã trở thành công cụ quản lý thực tiễn.
Quan trọng hơn, thực tế thị trường cho thấy sản phẩm có đầy đủ thông tin truy xuất thường có giá trị gia tăng cao hơn từ 15-20% so với sản phẩm không rõ nguồn gốc. Dù đã đạt được những kết quả khả quan, hành trình xây dựng hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn những rào cản, nhất là chi phí đầu tư.
Nhiều hộ sản xuất cho rằng các thiết bị cảm biến, phần mềm quản lý và tem nhãn vẫn làm tăng thêm gánh nặng tài chính. Cùng với đó, việc kết nối dữ liệu giữa các ngành nông nghiệp, công thương và khoa học- công nghệ, doanh nghiệp làm dịch vụ cung ứng tem nhãn đôi khi còn chưa nhịp nhàng.
Để hệ sinh thái thật sự phát huy hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã có kế hoạch triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2026-2030, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, bảo đảm minh bạch thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, các nhóm nhiệm vụ sẽ được triển khai thực hiện.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường rà soát hệ thống văn bản, quy định pháp luật về truy xuất nguồn gốc; tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức; vận hành, nâng cấp, mở rộng hệ thống truy xuất nguồn gốc của tỉnh; tổ chức thu thập thông tin, dữ liệu đánh giá thực trạng và nhu cầu truy xuất nguồn gốc; triển khai áp dụng hệ thống cho doanh nghiệp.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, 100% số sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục ưu tiên trên địa bàn tỉnh được hướng dẫn áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc và kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Đồng chí Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Sở sẽ phối hợp các đơn vị liên quan tăng cường khâu hậu kiểm, xử lý nghiêm các trường hợp gian lận mã số, mã vạch để bảo vệ các đơn vị làm ăn chân chính.
Xây dựng hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc hiện đại là một hành trình dài, tuy nhiên với quyết tâm, lộ trình rõ ràng, tỉnh đang từng bước biến “nguồn gốc minh bạch” thành thương hiệu nhận diện, góp phần khẳng định vị thế của nông, lâm sản địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.