Phá bỏ rào cản pháp lý mang tính “đồng phục” để xác lập một hành lang pháp lý riêng biệt không còn là sự ưu ái hay đặc quyền mà là tất yếu khách quan giúp khơi thông, giải phóng mọi nguồn lực, đưa con tàu kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, bền vững.
Thời gian qua, Trung ương đã dành cho thành phố sự quan tâm đặc biệt thông qua các chính sách đặc thù vượt trội, trong đó nổi bật là một số nghị quyết của Quốc hội như: Nghị quyết số 54/2017/QH14, Nghị quyết số 98/2023/QH15 và mới đây là Nghị quyết số 260/2025/QH15. Thông qua đó, kinh tế thành phố đạt một số kết quả đồng thời được trao quyền chủ động hơn trong một số lĩnh vực: Quản lý đầu tư, tài chínhngân sách, tổ chức bộ máy. Những mô hình như phát triển đô thị gắn kết với giao thông công cộng (TOD) hay cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực chip, bán dẫn đã bắt đầu hình thành.
Tuy nhiên, từ góc nhìn của một chuyên gia chính sách công, Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân cho rằng, các cơ chế đặc thù này vẫn chỉ dừng lại ở thí điểm, chưa đủ độ “mở” để xử lý những vấn đề mang tính cấu trúc dài hạn. Trong bối cảnh hiện nay, khi thành phố đã đạt quy mô siêu đô thị, đóng góp lớn cho GDP cả nước, mô hình quản trị theo khung pháp luật chung đã bộc lộ những “điểm nghẽn”. Đó là độ trễ trong phê duyệt dự án, hạn chế về phân cấp tài khóa, cũng như thiếu linh hoạt trong điều hành các vấn đề đặc thù như hạ tầng đô thị, nhà ở, giao thông và chuyển đổi số.
Tiến sĩ Khoa học, kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn đã đưa ra một thí dụ cụ thể về các dự án metro để thấy rằng, nếu không có đột phá trong thể chế dành riêng cho thành phố thì những cơ hội khó phát huy hiệu quả. Theo ông Sơn, khi triển khai tuyến metro số 1, thành phố mất gần 20 năm, do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, nhất là do nền tảng pháp lý chưa được điều chỉnh phù hợp, dẫn đến việc chậm tiến độ trong nhiều giai đoạn của dự án, từ việc đền bù, giải phóng mặt bằng khu đất dự án, cho đến việc đấu thầu quốc tế hay phối hợp đa ngành… Nhưng giờ đây, tuyến metro số 2 và các tuyến mới khác đang được yêu cầu tiến độ nhanh gấp 10 lần, thì một cơ chế cho phép thành phố chủ động hơn trong việc điều chỉnh nền tảng pháp lý cần thiết là điều rất quan trọng.
Theo các chuyên gia, việc ban hành một đạo luật riêng mang tính ổn định, lâu dài sẽ giúp “luật hóa” các cơ chế vượt trội của thành phố. Đồng thời, qua đó có thể tạo hành lang pháp lý cho những chính sách đột phá hơn, như: Tự chủ ngân sách ở mức cao hơn, cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược, thử nghiệm các mô hình tài chính đô thị hiện đại, quản trị theo hướng chính quyền đô thị tinh gọn.
Cùng quan điểm về việc ban hành Luật Đô thị đặc biệt là cấp thiết, luật sư Trương Trọng Nghĩa, đại biểu Quốc hội khóa XV, thành viên Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho biết, ông đã đề xuất xây dựng Luật Đô thị đặc biệt đối với thành phố từ năm 2023 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV. Theo luật sư, từ sau ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước đến nay, Trung ương đã có nhiều nghị quyết riêng cho thành phố với kỳ vọng để nơi đây phát huy toàn diện những thế mạnh đặc thù. Tuy nhiên, trên thực tế, các nghị quyết trước chỉ mang tính riêng lẻ của Chính phủ, Quốc hội, chưa quan tâm nhiều tới việc thể chế hóa thành luật. Tại Đại hội XIV của Đảng, Trung ương đã chỉ rõ vị trí, vai trò đặc thù của thành phố là đầu tàu, động lực phát triển của cả nước. Về thể chế, Trung ương nhấn mạnh, thể chế phải tạo động lực phát triển, mở đường kiến tạo và phải tạo thành thế mạnh, sức cạnh tranh mới, và phải kịp thời giải quyết các điểm nghẽn, hạn chế của thể chế. “Thế nên, đây là thời điểm đòi hỏi phải có luật riêng đối với thành phố để tháo gỡ khó khăn, khai thông mọi nguồn lực đưa thành phố phát triển như kỳ vọng”, luật sư Trương Trọng Nghĩa nhấn mạnh.
Thêm vào đó, hiện nay chúng ta đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo nhưng kèm theo đó không tránh khỏi những rủi ro. Nếu có Luật Đô thị đặc biệt, hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố hay sự phối hợp giữa Trung ương, các địa phương với thành phố sẽ rõ ràng, cán bộ triển khai công việc an tâm hơn. Luật Đô thị đặc biệt lần này cũng góp thêm tầm nhìn và định hướng để thể chế hóa các quy định cần thiết cho sự phát triển sắp tới của các đô thị lớn khác như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ…
Theo luật sư Trương Trọng Nghĩa, trước hết, Luật Đô thị đặc biệt sẽ phải thể chế hóa, mở rộng thẩm quyền cho thành phố dựa trên các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội như: Thẩm quyền về đầu tư, thu hút đầu tư, quyết định đầu tư; thẩm quyền về ngân sách, thu và chi ngân sách; thẩm quyền về đất đai, về quy hoạch và sử dụng đất đai; thẩm quyền về quy hoạch kinh tế, xã hội của thành phố; thẩm quyền về nguồn nhân lực hay một số thẩm quyền trong việc xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước. Những thẩm quyền này sẽ được đưa vào luật và khác với những địa phương không phải đô thị đặc biệt.
Thứ hai, Luật này sẽ đề ra phương thức, quan hệ giữa Chính phủ, các ban, bộ ngành Trung ương với thành phố. Tinh thần chung trong Nghị quyết của Đảng ta hiện nay là trao quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương, cho nên với thành phố, sự chủ động này sẽ phải lớn hơn. “Có như vậy, nhiều vấn đề mới được giải quyết nhanh chóng, không mất cơ hội chỉ vì chờ đợi Trung ương nghiên cứu, các bộ, ngành thống nhất trả lời; đồng thời không bị ràng buộc bởi những quy định chung cho cả nước nhưng không còn phù hợp với thành phố. Nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ… đã áp dụng cách làm này đối với những địa phương lớn, có tiềm năng đặc thù và cho thấy hiệu quả rõ nét. Đây cũng là những bài học kinh nghiệm mà chúng ta cần phải nghiên cứu đối với thực tiễn phát triển hiện nay”, luật sư Nghĩa cho biết.
Khác với Luật Thủ đô nhấn mạnh quy hoạch và bảo tồn di sản, Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân cho rằng, Luật Đô thị đặc biệt đối với Thành phố Hồ Chí Minh cần nhấn mạnh vào giải phóng nguồn lực đầu tư, thương mại quốc tế. Trong đó, trọng tâm không chỉ là mở rộng cơ chế, mà phải thiết kế được một khung thể chế vượt trội, đủ sâu, đủ khác biệt so với luật hiện hành, tạo ra động lực phát triển mang tính đột phá về phân cấp, phân quyền và quản trị đô thị; tài chính-ngân sách; phát triển hạ tầng và không gian đô thị; kinh tế đô thị và đổi mới sáng tạo.