Tìm thị trường xuất khẩu gạo trước bối cảnh mới

Năm 2026, ngành lúa gạo Việt Nam xác định không chỉ duy trì thị phần xuất khẩu tại các thị trường truyền thống mà chủ động chuyển hướng sang những thị trường có nhu cầu và yêu cầu chất lượng cao, như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Sự thay đổi này nhằm mở rộng thị trường và chủ động thích ứng biến động thương mại toàn cầu.

Đóng gói gạo xuất khẩu tại Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời. (Ảnh: TTXVN)
Đóng gói gạo xuất khẩu tại Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời. (Ảnh: TTXVN)

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Trung Quốc hiện đang nổi lên như một động lực then chốt của thị trường gạo châu Á nhờ nhu cầu nhập khẩu mạnh mẽ. Nhập khẩu gạo của Trung Quốc đã tăng mạnh trở lại trong năm 2025, đạt khoảng 3 triệu tấn. Trong số các thị trường cung cấp, Myanmar là thị trường lớn nhất nhờ mức giá cạnh tranh. Việt Nam giữ vị trí là nhà cung cấp gạo lớn thứ hai cho Trung Quốc với khoảng 700.000 tấn, tăng khoảng 2,5 lần so với năm 2024.

Chủ tịch VFA Đỗ Hà Nam cho biết, Trung Quốc là một trong những “điểm sáng” trong bức tranh xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2025, nhất là khi các thị trường nhập khẩu truyền thống như Philippines, Indonesia đều sụt giảm kim ngạch nghiêm trọng; đồng thời cũng là thị trường xuất khẩu gạo tiềm năng của Việt Nam trong năm 2026. Tuy nhiên thị trường này cũng dễ dàng chuyển đổi nhà cung cấp dựa trên khả năng cạnh tranh về giá cho nên các doanh nghiệp xuất khẩu cần năng động, linh hoạt cập nhật nhanh chóng thông tin về dòng chảy thương mại gạo tại Trung Quốc.

Trong khi đó, Việt Nam hiện đã vươn lên là nhà cung cấp gạo lớn thứ 7 cho thị trường Nhật Bản. Năm 2025, Việt Nam cũng đánh dấu một bước tiến lớn khi xuất khẩu thành công những tấn gạo đầu tiên mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” sang Nhật Bản, mở ra cơ hội tiếp cận sâu hơn với thị trường chất lượng cao, tiêu chuẩn nghiêm ngặt hàng đầu thế giới.

Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An cho rằng, năm 2026, công ty tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang Nhật Bản do nhu cầu của thị trường này còn khá lớn, nhất là đối với các loại gạo đặc sản, gạo xanh phát thải thấp. Thực tế, lượng gạo xuất khẩu vào Nhật Bản không lớn nhưng do chủ yếu là gạo thơm cho nên có lợi thế lớn về giá, mang lại giá trị gia tăng cao. Đây cũng sẽ là xu hướng chung trong xuất khẩu gạo của Việt Nam khi tập trung đẩy mạnh chất lượng thay vì số lượng.

Mặt khác, theo thông tin từ VFA, nhập khẩu gạo khu vực tư nhân của Nhật Bản năm 2025 tăng 95 lần so với năm 2024, đạt 96.834 tấn. Nguyên nhân là do nguồn cung nội địa thắt chặt và giá đạt mức cao kỷ lục buộc doanh nghiệp thực phẩm, nhà hàng và người tiêu dùng chuyển sang gạo nhập khẩu. Dự báo, giá gạo nội địa cao sẽ khiến nhu cầu nhập khẩu của Nhật Bản tiếp tục tăng, mang lại cơ hội cho nhiều quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam.

Đối với thị trường Hàn Quốc, bảng cân đối cung-cầu gạo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cho thấy triển vọng niên vụ 2025/2026 của Hàn Quốc nhìn chung ổn định. Sản lượng gạo xay xát dự kiến đạt 3,54 triệu tấn; lượng tiêu thụ dự báo đạt 3,86 triệu tấn chủ yếu đến từ nhu cầu của ngành thực phẩm chế biến. Với điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương, gạo Việt Nam có nhiều khả năng thâm nhập sâu hơn vào thị trường này.

Năm 2026, thương mại gạo quốc tế dự báo đạt 60,6 triệu tấn, tồn kho gạo cuối kỳ toàn cầu niên vụ 2025/2026 được dự báo đạt 217,7 triệu tấn. Theo báo cáo Chỉ số giá gạo toàn cầu (FARPI) tháng 2/2026 của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO), giá gạo toàn cầu tăng nhẹ vào đầu năm 2026, chủ yếu do nhu cầu mạnh đối với các loại gạo thơm. Tuy nhiên, mức giá này vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm 2025 do nguồn cung dồi dào và giao dịch trầm lắng tại hầu hết các nước xuất khẩu lớn.

Hiện, giá xuất khẩu gạo 5% tấm của Việt Nam, Thái Lan, Pakistan đều ở mức thấp, lần lượt là 364 USD/tấn, 385 USD/tấn và 367 USD/tấn. Khi mặt bằng giá gạo thế giới khó có khả năng tăng mạnh trong ngắn hạn, để duy trì kim ngạch cần mở rộng và tái cơ cấu thị trường tiêu thụ nhằm phân tán rủi ro và khai thác các phân khúc có giá trị cao hơn.

Vì vậy, bên cạnh việc giữ vững các thị trường chủ lực, việc mở rộng hiện diện tại các thị trường còn dư địa tăng trưởng, như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc... trở thành yêu cầu mang tính chiến lược đối với ngành lúa gạo Việt Nam. Đây là những thị trường đang có sức mua lớn và cấu trúc tiêu dùng đa dạng, nhất là ở các dòng gạo thơm, gạo chế biến giá trị cao.

Có thể bạn quan tâm

Khơi dậy tinh thần phụng sự quốc gia

Khơi dậy tinh thần phụng sự quốc gia

Để có vị thế và thương hiệu ở tầm quốc gia, doanh nghiệp, doanh nhân cần gắn liền sứ mệnh của mình với sứ mệnh phát triển đất nước. Nhất là đối với những bài toán lớn, khi một mình Nhà nước thực hiện là bất khả thi.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì gặp mặt đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2026.

Doanh nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới

Trải qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có tính lịch sử, từ một nước nghèo, trình độ sản xuất lạc hậu, manh mún trở thành nước có thu nhập trung bình cao, đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện. 

Khu nhà ở dành cho công nhân Công ty TNHH Luxshare-ICT Nghệ An. (Ảnh: TRUNG HIẾU)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Quy mô càng lớn, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và cộng đồng càng cao. Từ chăm lo việc làm, nhà ở, phúc lợi đến bảo vệ môi trường, hỗ trợ sinh kế và an sinh xã hội, nhiều doanh nghiệp coi trách nhiệm xã hội là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của đơn vị mình.

Hòa Phát nhiều năm qua luôn kiên định lấy sản xuất thép làm cốt lõi và đang mở rộng vào các sản phẩm thép chất lượng cao.

Làm chủ công nghệ, sản phẩm thép chiến lược

Với Tập đoàn Hòa Phát, lựa chọn tập trung phát triển sản xuất vào các sản phẩm thép, từ thép cuộn cán nóng (HRC), thép chất lượng cao đến ray đường sắt và thép đặc biệt là một cách tham gia đóng góp vào quá trình hình thành năng lực công nghiệp của quốc gia.

Các doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị rất cần nguồn vốn trung dài hạn. (Ảnh: KHÁNH ANH)

Doanh nghiệp lớn vốn phải dài

Đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đòi hỏi doanh nghiệp có nguồn vốn ổn định trong nhiều năm. Tuy nhiên khi tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo, còn các kênh huy động vốn dài hạn chưa phát triển tương xứng, nhu cầu “lớn lên” của doanh nghiệp tiếp tục đối mặt sức ép về kỳ hạn và chi phí.

Điều cộng đồng doanh nghiệp mong đợi

Điều cộng đồng doanh nghiệp mong đợi

Từ tháng 4/2026 đến nay, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã bốn lần tổng hợp và chuyển tới các bộ, ngành hơn 210 kiến nghị, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp. 

Ngài Thomas Gass, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Liên bang Thụy Sĩ tại Việt Nam. Ảnh: Đại sứ quán Thụy Sĩ cung cấp.

Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác Việt Nam-Thụy Sĩ

Từ nền tảng quan hệ ngoại giao được thiết lập năm 1971, Việt Nam và Thụy Sĩ đang mở rộng hợp tác kinh tế, tài chính, khoa học và công nghệ. Đại sứ Thomas Gass khẳng định việc ký kết FTA Việt Nam-EFTA là cột mốc quan trọng, thể hiện cam kết chung về thương mại minh bạch và hợp tác dựa trên các chuẩn mực quốc tế.

Doanh nghiệp Việt Nam: Khát vọng kiến tạo và dẫn dắt phát triển

Doanh nghiệp Việt Nam: Khát vọng kiến tạo và dẫn dắt phát triển

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất đang đặt doanh nghiệp trước một không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời cũng đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn.

Dây chuyền sản xuất hiện đại tại Tổng công ty cổ phần Phong Phú.

Chuyển hướng vì mục tiêu cao hơn

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, đồng thời hướng tới một nền kinh tế có năng suất cao hơn, kinh tế số phát triển mạnh hơn và năng lực cạnh tranh ngày càng được nâng cao. 

Cơ quan thuế cơ sở 16 Thành phố Hà Nội hướng dẫn hộ kinh doanh thực hiện thủ tục về thuế bằng phương thức điện tử. (Ảnh: HÀ ANH)

Bước qua thuế khoán

Hơn 5,2 triệu hộ kinh doanh trong cả nước đã bước qua thuế khoán được chín tháng với nhiều lợi ích như minh bạch dòng tiền, mở ra cơ hội tiếp cận tín dụng ngân hàng… Tuy vậy, hiện vẫn còn một số băn khoăn, khi các hộ kinh doanh phải làm quen với số hóa quản lý tài chính.

Quốc hội làm việc tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Sửa đổi Luật Chứng khoán: Đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục

Luật Chứng khoán được sửa đổi, bổ sung theo hướng đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng khoán; tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời có chính sách khuyến khích, đãi ngộ, phát triển và thu hút nguồn nhân lực cho ngành chứng khoán.

Xã Tân Phước Hưng, với hơn 1.600ha mía và là một trong những vùng nguyên liệu quan trọng của thành phố Cần Thơ. (Ảnh: VĂN ÚT)

Cây mía Cần Thơ tìm đường xuất khẩu, mở lối ra cho nông dân

Từ chỗ phụ thuộc vào nhà máy đường và thương lái, cây mía ở xã Tân Phước Hưng, thành phố Cần Thơ, đang có thêm hướng tiêu thụ thông qua chế biến mía tươi cấp đông và nước mía xuất khẩu. Tuy nhiên, để cơ hội này trở thành đầu ra bền vững, bài toán liên kết vùng nguyên liệu và bảo đảm chất lượng vẫn cần được giải quyết.

[Video] Hà Nội yêu cầu rà soát, giảm giá cước vận tải khi giá nhiên liệu giảm

[Video] Hà Nội yêu cầu rà soát, giảm giá cước vận tải khi giá nhiên liệu giảm

Ngày 17/10, Sở Xây dựng Hà Nội đề nghị các đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa, hành khách thực hiện kê khai giá cước, bảo đảm tính đúng, tính đủ các mục chi phí cấu thành giá cước vận tải; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng tăng giá cước khi giá nhiên liệu tăng nhưng không kịp thời điều chỉnh giảm khi giá nhiên liệu đã giảm.