Dự án Uranverein
Theo DW, năm 1938 chứng kiến một cột mốc đặc biệt trong lịch sử ngành Vật lý nguyên tử khi hai nhà khoa học người Đức Otto Hahn và Fritz Strassmann phát hiện ra phản ứng phân hạch hạt nhân. Phân hạch là phản ứng mà trong đó, hạt nhân một nguyên tử tách làm hai hoặc nhiều hạt nhân nhỏ hơn, đồng thời giải phóng một năng lượng khổng lồ.
Khi phát minh này được công bố, các nhà vật lý học và chính quyền nhiều quốc gia lập tức nhận ra nếu khai thác được sức mạnh này, con người có thể tạo ra một vũ khí hủy diệt chưa từng có trong lịch sử. Cả lực lượng Đồng minh lẫn phát-xít đều rất quan tâm và đã tiến hành nghiên cứu. Các dự án về hạt nhân của Nga, Pháp, Nhật Bản và đương nhiên cả Đức lẫn Mỹ đều đã được triển khai. Tuy nhiên, không phải nước nào cũng đủ sự nghiêm túc và nguồn lực trong nghiên cứu, phát triển. Điển hình là Pháp, họ đã tập trung nhiều hơn vào việc phát triển lò hạt nhân với mục tiêu sản xuất điện.
Tại Đức, được sự hậu thuẫn bởi chính quyền quân sự và nền tảng công nghiệp quốc phòng mạnh mẽ, các nhà khoa học Đức đã bắt đầu dự án nghiên cứu bom nguyên tử, sau này còn được gọi dưới cái tên Dự án Uranverein. Họ đã tiến hành tuyển dụng và cưỡng ép nhiều nhà khoa học hàng đầu cả của Đức lẫn châu Âu. Dự án được dán nhãn tuyệt mật nhưng nhiều thông tin về nó vẫn bị lộ ra ngoài, đặc biệt thông qua các nhà khoa học đã chạy trốn khỏi sự đàn áp của Đức Quốc xã. Một trong số đó là Albert Einstein. Nhà bác học vĩ đại đã gửi thư cảnh báo tới Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt vào năm 1939.
Tiếng nói có trọng lượng của Einstein và nguy cơ Đức sở hữu một vũ khí mới quá mạnh mẽ đã thúc đẩy người Mỹ hành động thông qua Dự án Manhattan. Chương trình do J. Robert Oppenheimer lãnh đạo, khởi động từ mùa hè năm 1942 và chỉ cần ba năm để bom nguyên tử thật sự xuất hiện và sử dụng trong thực tế. Giới sử học sau này đều thống nhất quan điểm dự án hạt nhân của Đức chính là động lực thúc đẩy người Mỹ tạo ra bom hạt nhân. Tuy nhiên, bản thân Đức Quốc xã lại không thể sở hữu trái bom nguyên tử của chính mình, vì nhiều lý do khác nhau.
“Tôi không tin được một lời nào trong toàn bộ chuyện này”, Werner Heisenberg - người đứng đầu dự án hạt nhân của Đức - đã thốt lên như vậy khi nghe được tin về vụ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản. Heisenberg và chín nhà khoa học vật lý cấp cao của Đức lúc ấy đang bị người Anh giam giữ. Họ bị bắt vào đầu năm 1945 trong nỗ lực của người Anh nhằm tìm hiểu chương trình hạt nhân của Đức Quốc xã.
Sự hoài nghi là cảm xúc chung của các nhà khoa học Đức ở thời điểm ấy. Otto Hahn, một thành viên cấp cao của Dự án Uranverein, khẳng định: “Tôi không nghĩ rằng điều đó (một quả bom nguyên tử trên thực địa) có thể thật sự xuất hiện trong khoảng 20 năm tới”. Phản ứng của Heisenberg và Hahn cho thấy, chương trình hạt nhân của Đức Quốc xã mới đạt được những bước tiến khá khiêm tốn, và còn xa mới có thể tạo nên những vũ khí hiệu quả trên thực địa như ở Hiroshima hay Nagasaki. Khi thông tin tình báo này được chia sẻ tới người Mỹ, họ mới nhận ra mình đã đánh giá quá cao năng lực của nước Đức.
Vì sao Werner Heisenberg thất bại?
Trên thực tế, Dự án Uranverein đã được khai sinh ngay ngày 1/9/1939, đúng ngày Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu ở châu Âu. Dự án được đứng đầu bởi Werner Heisenberg, “chàng trai vàng” của làng vật lý, thiên tài đã giành giải Nobel Vật lý năm 31 tuổi. Tuy nhiên, dự án không được cấp đủ vốn và không có nhiều tiến triển trong các năm kế tiếp.
Nhiều thông tin sau này cho thấy, khi Mỹ triển khai Dự án Manhattan vào năm 1942, chương trình vũ khí hạt nhân của Đức đã ngừng hoạt động. Các nhà khoa học của Đức cho rằng, họ không thể tách được đủ đồng vị để chế tạo bom. Họ cũng chưa bao giờ đạt được phản ứng dây chuyền cần thiết và không có phương pháp làm giàu urani đủ hiệu quả.
Theo History Extra, dự án bị hủy bỏ vào tháng 7/1942 sau cột mốc là buổi thuyết trình của Heisenberg trước các tướng lĩnh quân sự Đức Quốc xã. Nhà khoa học thiên tài hóa ra lại là một người hùng biện bình thường. Các chi tiết về sức mạnh của vũ khí mới, khả năng ứng dụng trên chiến trường hay chi phí chế tạo của ông đều chẳng gây được ấn tượng với giới quân sự, vốn rất thực tế và chỉ quan tâm tới hiệu quả.
Dự án đổ vỡ, các nhà khoa học chia thành nhiều nhóm nhỏ, hoạt động nghiên cứu bị phân tán rải rác ở chín địa điểm khác nhau trên lãnh thổ Đức. Từ một kế hoạch phục vụ quân sự, dự án trở thành chương trình dân sự. Heisenberg sau này tập trung vào khía cạnh điện hạt nhân, sản xuất urani, nước nặng và phân tách đồng vị. Nhóm của ông có đạt được thêm một số thành tựu nhưng họ không bao giờ còn cơ hội tạo ra quả bom nguyên tử đầu tiên.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thất bại của dự án này. Trong đó, cuộc chiến phi nghĩa của Đức Quốc xã là một điểm trừ nghiêm trọng. Các tài liệu lịch sử sau này cho thấy, nước Đức đã không nhận được sự ủng hộ từ nhiều nhà khoa học hàng đầu. Một số học giả Do Thái và Ba Lan phải chạy trốn khỏi sự đàn áp của phát-xít, số khác bị thu hút bởi Dự án Manhattan của Mỹ, số khác thậm chí bị gọi nhập ngũ hay cưỡng ép tham gia các dự án khác của quân đội Đức.
Áp lực từ Chiến tranh thế giới thứ hai khiến Đức không thể tập trung nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu cực kỳ tốn kém này. Họ không có đủ lượng urani làm giàu ở mức cần thiết để chế tạo bom, không có cơ sở vật chất đủ tốt cho nghiên cứu và phát triển. Đến cả nước - tài nguyên rất cơ bản nhưng cần thiết cho việc làm mát lò phản ứng hạt nhân - cũng thiếu hụt nghiêm trọng.
Quan trọng hơn cả, dự án của Đức thiếu đi sự ủng hộ về mặt chính trị. Takuma Melber, sử gia của Trường đại học Heidelberg (Đức) cho rằng, “Hitler đã gặp khó khăn trong việc hiểu được dự án này” và quyết định cắt giảm hỗ trợ cho nó vào năm 1942. Không có sự ủng hộ từ trên cao, các nhà khoa học Đức còn rất ít nguồn lực.
Các so sánh phản ánh rất rõ khác biệt. Dự án Manhattan của Mỹ đã nhận được sự bảo trợ toàn diện cả về chính trị và tài chính. Các khâu khác nhau của dự án sử dụng tới 500.000 người, chiếm khoảng 1% lực lượng lao động Mỹ thời ấy, tiêu tốn hai tỷ USD (tương đương 24 tỷ USD ngày nay). Chiều ngược lại, Dự án Uranverein chỉ có ngân sách tám triệu reichsmark (tiền Đức thời bấy giờ), tương đương 24 triệu USD ngày nay.
Nhiều năm sau này, các tài liệu của tình báo Anh và Mỹ cũng cung cấp thêm một góc nhìn nhân văn khác từ những nhà khoa học Đức. Băng ghi âm và lời khai của họ cho thấy, nhiều người đã được thôi thúc bởi những lý do đạo đức và phản đối kế hoạch chế tạo bom nguyên tử cho chủ nghĩa phát-xít. Một số thậm chí ngầm tìm cách phá hoại hoặc làm chậm kế hoạch của Đức Quốc xã.
Carl Friedrich von Weizsaecker, một nhà khoa học trong dự án, tiết lộ: “Tôi tin rằng lý do chúng tôi không làm được điều đó là bởi tất cả nhóm hồi ấy đều không muốn làm. Nếu tất cả đều muốn Đức thắng cuộc chiến, chúng tôi đã thành công rồi”. Người đứng đầu dự án Heisenberg cũng từng phản đối ý tưởng về bom hạt nhân. Ông nói: “Trong thâm tâm, tôi thật sự mừng vì chúng tôi chỉ thành công trong việc tạo ra một động cơ hạt nhân, không phải một quả bom”.
Nhiều người trong số họ thậm chí bày tỏ hy vọng “lịch sử sẽ ghi lại người Mỹ và người Anh đã phát triển loại vũ khí chiến tranh khủng khiếp đó. Còn người Đức chỉ đang chế tạo một cỗ máy dựa trên năng lượng hạt nhân”.