Vị trí chiến lược
Eo biển Hormuz là vùng biển hẹp kết nối vịnh Ba Tư và vịnh Oman ở Trung Đông. Phía bắc là lãnh thổ Iran, phía nam là bán đảo Musandam thuộc Oman và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE). Eo biển này dài khoảng 167km, với bán đảo Musandam tạo thành nút thắt cổ chai, nơi hẹp nhất có chiều ngang chỉ 39km. Đây là tuyến đường hàng hải duy nhất từ vịnh Ba Tư ra đại dương.
Eo biển này đủ sâu và rộng cho các tàu chở dầu lớn nhất thế giới có thể đi qua. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), năm 2024, mỗi ngày có khoảng 20 triệu thùng dầu đi qua eo biển này, tương đương khoảng 20% tổng lượng tiêu thụ dầu mỏ toàn cầu. Eo biển Hormuz vì thế sở hữu vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trên bản đồ địa - chính trị và kinh tế thế giới. Mỗi biến động nhỏ tại đây đều sẽ tác dộng mạnh tới giá dầu mỏ nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
Nhiều năm trước thời đại nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ “lên ngôi”, Hormuz đã có vị trí đặc biệt, là điểm kiểm soát về chính trị, quân sự, là con đường thương mại, cầu nối lớn từ vùng Cận Đông xuống Ấn Độ và các khu vực khác của châu Á. Từ trước Công nguyên, các thương nhân đã dùng con đường này để vận chuyển đồng, đá quý, hàng hóa xa xỉ giữa Trung Đông và Ấn Độ. Nhiều cường quốc từng kiểm soát Hormuz trong lịch sử, nổi bật là vai trò của Đế chế La Mã, Đế chế Ba Tư, Vương triều Hormuz và sau này là người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16.
Cái tên Hormuz cũng xuất phát từ tên vị thần Ahura Mazda (thần Trí tuệ, thần Bầu trời) trong tiếng Ba Tư. Một cách hiểu khác về Hormuz nghĩa là “vùng đất trồng chà là”. Vương quốc Hormuz (từ thế kỷ 11 tới 17) là quốc gia đầu tiên hưởng lợi lớn từ tuyến đường biển trọng yếu này. Vương quốc này gần như không có đất nông nghiệp, khả năng sản xuất hạn chế nhưng đã giàu lên nhanh chóng khi tận dụng vị trí địa lý và các hoạt động thương mại. Hương liệu, tơ lụa, đồ gốm, ngọc trai, kim loại quý... của phương Đông đã liên tục đi qua Hormuz để tới châu Âu suốt một thời gian dài. Sự thịnh vượng của Hormuz từng được miêu tả trong các ghi chép của một thương gia kiêm nhà thám hiểm Marco Polo.
Đến thế kỷ 16, cường quốc trên biển là Bồ Đào Nha trở thành nước châu Âu đầu tiên xác lập ảnh hưởng tại Hormuz. Sau họ là người Hà Lan và Vương quốc Anh - giữ ảnh hưởng trong khu vực này xuyên suốt thế kỷ 19 trước khi dầu mỏ xuất hiện và làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt khu vực này ở đầu thế kỷ 20.
Khi dầu mỏ bắt đầu được khai thác và tăng dần hoạt động vận chuyển sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vai trò của Eo biển Hormuz ngày càng trở nên quan trọng. Ngày nay, khoảng một phần năm lượng dầu mỏ và khí đốt của thế giới hằng ngày thông qua Hormuz. Không những thế, khoảng 30% lượng phân bón toàn cầu cũng vận chuyển qua đây. Bất kỳ gián đoạn nào, dù là tạm thời của tuyến vận tải này đều có thể tạo những cú sốc cho kinh tế toàn cầu.
Vị trí địa lý của Eo biển Hormuz được xem đặc biệt, bởi đây là tuyến vận tải mà thế giới chưa có phương án thay thế. Dù vậy, các quốc gia vẫn đã triển khai một số giải pháp, nổi bật nhất trong số này là đường ống dẫn dầu theo hướng đông - tây, chạy từ trung tâm lọc dầu Abqaiq (vịnh Ba Tư), xuyên qua sa mạc rộng lớn, kéo dài tới cảng Yanbu bên bờ Biển Đỏ. UAE cũng có đường ống tương tự, kéo dài xuống cảng Fujairah (Oman) ở phía nam. Bản thân Iran cũng đã khánh thành đường ống dẫn dầu, chạy trong đất liền xuống phía nam, tránh khỏi Eo biển Hormuz, công suất 300.000 thùng dầu/ngày. Tuy nhiên, người Iran không quá chú trọng đường ống dẫn dầu này do tuyến vận chuyển bằng tàu qua Hormuz vẫn là huyết mạch.
Các lựa chọn vận chuyển nhiên liệu khác không qua Hormuz đều làm tăng đáng kể chi phí, từ đó tăng giá dầu. Không thể tìm được giải pháp nào so sánh được với độ tiện lợi và hiệu quả của tuyến đường biển qua eo Hormuz. Mỗi khi có biến động chính trị hay quân sự, hầu hết khối lượng dầu vận chuyển sẽ mắc kẹt trong vịnh Ba Tư.
“Nút thắt cổ chai”
Do Eo biển Hormuz hạn hẹp song cộng đồng quốc tế đã cùng thống nhất cách thức di chuyển trên vùng biển này. Các tàu đi vào theo một làn, ra theo làn khác. Giữa hai làn là “dải phân cách” để bảo đảm an toàn. Các làn rộng khoảng 2 dặm (hơn 3,2km). Tàu thuyền ra vào khu vực này phải tuân theo các quy định của Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Tuy nhiên, việc vận tải trên vùng biển này thực tế vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ hai nước trong khu vực là Iran và Oman, đặc biệt là Iran. Năm 1959, Iran đã đơn phương mở rộng lãnh hải của mình thêm 12 hải lý (22km); trong khi Oman cũng làm điều tương tự vào năm 1972. Điều đó đồng nghĩa Eo biển Hormuz đã hoàn toàn nằm trọn trong phạm vi lãnh hải kết hợp của hai nước, giúp họ kiểm soát hoàn toàn vùng biển này.
Nhiều thập kỷ qua, Iran cũng luôn sử dụng biện pháp “đe dọa phong tỏa Eo biển Hormuz” như là vũ khí chiến lược với các đối thủ, đặc biệt là phương Tây. Sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran từ cuối tháng 2, Iran buộc phải tiến hành chiến dịch phong tỏa quy mô lớn Eo biển Hormuz. Ngoại trừ một số ít tàu Iran và đồng minh của nước này, tàu thuyền của các quốc gia khác đều không được đi qua Eo biển Hormuz, nếu vẫn quyết định đi qua sẽ chịu thiệt hại lớn. Sự phong tỏa của Iran dẫn tới những hậu quả nặng nề cho kinh tế thế giới, cho Mỹ và đồng minh, đồng thời đối với cả Iran. Song, đây là hậu quả của chiến tranh cũng như những lệnh phong tỏa của Mỹ đối với nước Cộng hòa Hồi giáo suốt nhiều năm qua đối với chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của quốc gia Trung Đông này.
Ảnh hưởng đầu tiên từ việc phong tỏa Eo biển Hormuz có thể là châu Á, nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc xung đột Trung Đông. Theo Asia Briefing, hơn 80% lượng dầu và các sản phẩm dầu mỏ vận chuyển qua Hormuz là tới các nước châu Á. Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản là những nước nhập khẩu chính, trong đó Trung Quốc chiếm 45 tới 50% lượng dầu nhập khẩu qua eo biển này. Châu Âu chịu tác động lớn thứ hai. Họ vốn đã bị ảnh hưởng bởi xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine, giờ lại chịu thêm tác động của giá dầu tăng do căng thẳng của xung đột Trung Đông.
Trong khi đó, Mỹ ít chịu ảnh hưởng hơn khi nước này không bị phụ thuộc vào lượng dầu nhập khẩu. Tuy nhiên, ông Abhi Rajendran - Giám đốc Nghiên cứu thị trường dầu mỏ tại Tập đoàn nghiên cứu Energy Intelligence - cho rằng: “Mỹ tránh được khó khăn trong việc tìm nguồn cung, song giá cả năng lượng chịu ảnh hưởng của biến động toàn cầu nên giá vẫn sẽ tăng”.
Các nước Trung Đông, trong đó có Iran, chịu tác động cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhiều cơ sở hạ tầng của họ bị tàn phá, việc bán dầu bị ảnh hưởng, tác động tới mọi mặt nền kinh tế. Nước Cộng hòa Hồi giáo chủ động phong tỏa Eo biển Hormuz trong chiến sự, nhưng họ cũng là quốc gia chịu thiệt hại nặng nề, khi có khoảng 90% ngoại tệ của Iran có được từ hoạt động thương mại dầu mỏ qua Eo biển Hormuz bị thâm hụt. Hormuz cũng là con đường nhập khẩu chính lương thực, thuốc men cho Iran - một quốc gia vốn phải phụ thuộc nhiều vào nguồn hàng dân sinh từ bên ngoài.
Với thế giới nói chung, hậu quả trực tiếp đầu tiên là giá dầu thô đã vượt mốc 100USD/thùng, khiến hàng hóa tăng giá làm gia tăng lạm phát, gây khó khăn cho toàn bộ các nền kinh tế. Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) tuyên bố có thể tăng nguồn cung lên khoảng 24 triệu thùng dầu/ngày từ các nguồn khác, qua đó đạt mức cân bằng cung - cầu cho thị trường dầu mỏ thế giới trong vài tháng. Tuy nhiên đây chỉ là giải pháp tạm thời, nếu xung đột chưa chấm dứt thì tương lai của giá dầu vẫn còn bất định.
Những diễn biến gần đây càng củng cố thêm vai trò đặc biệt quan trọng của Eo biển Hormuz trên bản đồ địa - chính trị và kinh tế thế giới. Cửa ngõ đưa dầu mỏ từ các nước xuất khẩu dầu lớn ở vùng Vịnh ra thị trường thế giới sẽ gián đoạn khi xung đột chưa chấm dứt.