Sắc màu văn hóa bên dòng Đăk Pne

Nằm hai bên bờ sông Đăk Pne mát lành, làng Kon Brăp Ju và Kon Biêu (xã Tân Lập, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum) là nơi sinh sống của dân tộc Ba Na và Xơ Đăng. Nhà rông ở đây vừa là biểu trưng của tộc người, vừa là thiết chế văn hóa quan trọng góp phần gìn giữ các giá trị truyền thống và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
Bên mái nhà rông làng Kon Brăp Ju. (Ảnh: KHIẾU MINH)
Bên mái nhà rông làng Kon Brăp Ju. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Làng Kon Brăp Ju là nơi định cư lâu đời của người Ba Na (nhóm Giơ Lâng), còn làng Kon Biêu là nơi quần tụ của người Xơ Đăng (nhánh Tơ Đrá).

Nối với nhau bởi cây cầu treo bắc qua sông Đăk Pne, người dân ở đây lưu giữ khá nguyên vẹn các phong tục, tập quán tốt đẹp trong lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày.

Nhịp sống dưới mái nhà rông

Trưa tháng 3, mái nhà rông làng Kon Brăp Ju cao vút như tạc lên nền trời xanh thẳm.

Nhà của già làng A Jring Đeng nằm ngay sau căn nhà rông sừng sững, với kiến trúc nhà sàn gỗ, lợp mái ngói giản dị. Cuối gian khách, bếp lửa âm ỉ nổ lách tách, khói xám vấn vương.

Ngồi quanh bếp lửa, già làng A Jring Đeng tự hào kể cho chúng tôi nghe câu chuyện thời lập làng, sức mạnh văn hóa nội tại đã bền bỉ “đánh bật” văn hóa Tây phương du nhập. Dân làng Kon Brăp Ju vẫn bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và phong tục của dân tộc mình.

Câu nói “phong tục của chúng tôi, chúng tôi phải giữ” mà già A Jring Đeng ghi nhớ vẫn chi phối các hoạt động trong đời sống.

Cho đến nay, trong làng Kon Brăp Ju, bà con vẫn giữ bản sắc văn hóa tốt đẹp trong nếp ăn, nếp ở, nếp mặc. Cuộc sống hiện đại, điện vào từng nhà nhưng trong ngôi nhà sàn truyền thống của người Ba Na, bếp lửa là linh hồn của căn nhà, âm ỉ không bao giờ tắt.

Nhớ lại thời nghèo khó, chăn màn còn thiếu thốn, để giữ ấm, cả gia đình ngủ quanh bếp lửa. Không chỉ thế, trong lao động nông nghiệp, nông sản sau khi thu hoạch được cất luôn vào kho, khi dùng mới lấy một gùi trải lên cái nia, hong trên bếp lửa một ngày, một đêm thì khô.

Chỉ khoảng 25-30 năm trở lại đây, người Ba Na mới thay đổi cách làm, lúa ngô thu hoạch được đem phơi nắng. Vì vậy, bếp lửa là thành tố quan trọng, mang lại sự ấm cúng cho căn nhà.

Đưa cho chúng tôi xem chiếc gùi được đan chắc chắn, kỹ càng, già làng A Jring Đeng vui vẻ gọi đây là chiếc gùi “ông đan, bà nẹp chỉ”.

Ông cho biết: “Dân tộc tôi, đàn ông nếu không biết đan lát thì đừng nghĩ chi đến lấy vợ. Đàn bà không biết kéo sợi, dệt thổ cẩm thì đừng nói đến kiếm chồng. Chúng tôi đan những chiếc gùi để đi rừng, đi núi. Tùy mùa măng hay mùa lúa mà đan gùi có sức chứa 35-50kg. Hiện giờ, nghề đan lát mây tre vẫn phổ biến trong đời sống. Sản phẩm chủ yếu bán cho bà con trong làng hoặc khách du lịch”.

Người Ba Na đang nắm giữ 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là nghề dệt thủ công truyền thống và lễ Ét Đông (còn gọi là tết ăn con dúi) của nhóm Giơ Lâng (Ba Na) huyện Kon Rẫy.

Già làng A Jring Đeng đưa chúng tôi tham quan ngôi nhà rông. Nắng gió Tây Nguyên là thế mà khi bước vào nhà rông, không khí mát rượi.

Già làng A Jring Đeng, làng Kon Brăp Ju. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Già làng A Jring Đeng, làng Kon Brăp Ju. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Ông chia sẻ, nhà rông rộng hơn 300m2, cao gần 20m, được ngăn vách làm hai; cột trụ bằng gỗ cà chít, lợp mái tranh; bên trong treo nhiều sừng trâu và tín vật của đồng bào.

Làng có 186 hộ và nhà rông là công trình của tập thể, cả làng cùng tham gia dựng nhà. Trong không gian này, dân làng Kon Brăp Ju tổ chức lễ mừng năm mới, lễ xuống giống, lễ sửa máng nước, lễ Ét đông, lễ ăn lúa mới…

Đội văn nghệ cồng chiêng của làng hoạt động rất tích cực dưới sự dẫn dắt của già làng A Jring Đeng. Với tri thức của một nghệ nhân ưu tú, ông đảm nhận vai trò truyền dạy cách đánh cồng chiêng cho thế hệ trẻ.

Rời mái nhà rông cao vút đặc trưng của người Ba Na, đi qua cây cầu treo Thôn 5 bắc qua dòng Đắk Pne để sang làng văn hóa Kon Biêu (Thôn 4), chúng tôi sang thăm đồng bào dân tộc Xơ Đăng.

Đường vào làng được bê-tông hóa, sạch sẽ, phong quang, qua cổng là thấy bóng cây xanh mát bao quanh nhà rông, sân bãi rộng rãi.

Cũng như nhiều vùng dân tộc thiểu số, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, các yếu tố hiện đại và truyền thống pha trộn trong không gian chung. Lý giải việc này, già làng Kon Biêu A Hiang cho biết: Điều kiện kinh tế tốt lên, người dân trong làng đều sửa sang nhà cửa, nhưng nhà sàn truyền thống vẫn được giữ lại.

Hiện nay, làng Kon Biêu có 163 hộ với hơn 500 dân, chủ yếu làm nông nghiệp. Người dân trong làng vẫn giữ nghề dệt truyền thống, tuy nhiên chỉ phục vụ trong gia đình.

Tương tự như nhiều dân tộc trên mảnh đất Tây Nguyên, nhà rông là bộ mặt của làng, là công trình của tập thể, được bà con cùng dựng với sự phân chia lao động cụ thể. Các hộ dân đóng góp vật liệu, ngày công. Điểm độc đáo là chỉ bằng chiếc rìu, các nghệ nhân đục đẽo, tạc gỗ, bổ cây, dựng cột, gia cố các mối buộc bằng mây mà không cố định bằng đinh.

Tuy am hiểu, nắm giữ tri thức dựng nhà rông truyền thống, nhưng bây giờ không có điều kiện dựng nhà rông mới, nên trong những lần tu bổ, sửa chữa, già làng A Hiang trực tiếp hướng dẫn người làng thực hiện từng công đoạn tỉ mỉ, vừa bảo đảm gìn giữ tối đa tính truyền thống, nguyên bản vốn có của nhà rông, vừa là truyền lại kỹ thuật dựng nhà.

Là không gian chung, nên các phong tục truyền thống đều diễn ra ở đây, từ các lễ truyền thống như đón năm mới, phát rẫy, đốt rẫy, tỉa lúa, làm đường, lúa mới, lễ cúng máng nước…

Già làng A Hiang cho biết, người dân trong làng ngày càng đông. Khi tách hộ lập buồng, rời khỏi gia đình bố mẹ, có chỗ ở riêng, theo luật tục, vào dịp làng có việc, nhà đó phải mang rượu đến nhà rông mời và “báo cáo” với làng việc vui.

Ngoài ra, nhà rông cũng là không gian tổ chức các cuộc họp thôn, sinh hoạt chi bộ, bàn bạc những việc chung của làng.

Trong nhịp sống mới, bà con bảo ban nhau hiến đất làm đường, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhờ sự đoàn kết, chung tay vì cuộc sống tốt lên từng ngày, làng Kon Biêu đã đạt chuẩn nông thôn mới.

Giữ bản sắc văn hóa dân tộc

Văn hóa bản địa được bảo tồn rất tốt nhưng du lịch cộng đồng ở làng Kon Brăp Ju và Kon Biêu chưa phát triển.

Trưởng phòng Văn hóa, Khoa học và Thông tin huyện Kon Rẫy Phạm Viết Thạch cho biết, làng Kon Brăp Ju được huyện chọn xây dựng điểm mô hình du lịch cộng đồng, nhưng du lịch chưa thực sự chuyển mình.

Dùng du lịch để bảo tồn văn hóa hay dùng văn hóa là nguồn lực để phát triển du lịch, huyện Kon Rẫy vẫn xác định phát triển bền vững để không phá vỡ cấu trúc văn hóa vốn có.

Là địa bàn sinh sống của khoảng 10 dân tộc với sắc màu văn hóa đa dạng, huyện Kon Rẫy có 36 nhà rông, 16 nghệ nhân ưu tú về văn hóa dân gian, cồng chiêng, nhạc cụ; các lễ hội đa dạng gắn với di sản văn hóa cồng chiêng và không gian nhà rông, các nghề truyền thống và nghệ thuật trình diễn dân gian… Đây là nguồn lực, tài nguyên văn hóa dồi dào để phát triển kinh tế, xã hội địa phương.

Sự tham gia của đội ngũ già làng, nghệ nhân trong vai trò truyền dạy các nghề đan lát, tạc tượng, làm gốm hay hát kể sử thi, dạy đánh cồng, chiêng, múa xoang và sự tiếp nối của lớp kế cận… bảo đảm cho dòng chảy văn hóa liên tục.

Quan trọng nhất, huyện Kon Rẫy xác định nhà rông vừa là biểu trưng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, vừa là di sản văn hóa độc đáo cần phải gìn giữ. Vì vậy, trong bảo tồn, phục hồi giá trị nhà rông nguyên bản, cán bộ văn hóa huyện thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn bà con đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có và nguồn lực của cộng đồng để xây dựng.

Từ đó, lễ hội truyền thống, ngày hội văn hóa các dân tộc huyện Kon Rẫy, hội thi cồng chiêng... được tổ chức thường niên gắn liền với không gian buôn làng. Cấu trúc không gian làng không bị mất đi.

Không chỉ làng Kon Brăp Ju, Kon Biêu, ở những ngôi làng khác trong xã Tân Lập, dấu ấn văn hóa bản địa đều đậm đặc.

Trong tiến trình phát triển, văn hóa ăn, văn hóa ở, văn hóa mặc của bà con được giữ gìn; trong đó, nhà rông, trang phục truyền thống, không gian văn hóa cồng chiêng là những dấu hiệu nhận diện bản sắc văn hóa tộc người. Trước xu thế giao thoa đan xen các vùng văn hóa, nhiều khi yếu tố văn hóa bản địa bị phai mờ.

Giải pháp là lựa chọn bảo tồn có chọn lọc những phong tục, tập quán tốt đẹp, gìn giữ yếu tố văn hóa gốc trước làn sóng san bằng, cào phẳng của lối sống hiện đại.

Đề cao vai trò của nghệ nhân, của cộng đồng trong quá trình tự lưu giữ, tự thực hành tri thức dân gian, không tác động, can thiệp nhiều vào các thành tố văn hóa… khi đó văn hóa bản địa tự thân sẽ tỏa sáng.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.