Rối nước Ðào Thục

Từ xưa, làng Ðào Thục, xã Thụy Lâm, huyện Ðông Anh (Hà Nội) vẫn được biết đến là cái nôi của rối nước cổ truyền. Bao năm qua, sân khấu rối nước nơi thủy đình đều đặn "sáng đèn". Những tích trò hấp dẫn, với những con rối uyển chuyển độc đáo đã đưa môn nghệ thuật truyền thống làng Ðào Thục vượt khỏi lũy tre làng.

Biểu diễn rối nước tại thủy đình làng Ðào Thục. Ảnh: LAN ANH
Biểu diễn rối nước tại thủy đình làng Ðào Thục. Ảnh: LAN ANH

Làng Ðào Thục nằm yên bình sát triền đê sông Cà Lồ. Ðến đây, người ta như quên hết những ồn ã, xô bồ của cuộc sống đô thị. Làng vẫn lưu giữ nhiều nét xưa của làng quê Bắc Bộ, với những cánh đồng lúa xanh ngút mắt; có đình làng với gốc đa cổ thụ rợp bóng và đáng chú ý hơn cả là thủy đình với những nét kiến trúc cổ, nơi thường xuyên biểu diễn các tiết mục múa rối nước truyền thống.

Ðịa chỉ đầu tiên mà người dân Ðào Thục chỉ cho chúng tôi là nhà ông Nguyễn Văn Phi, người duy nhất hiện còn chế tác con rối cho phường rối của làng. Nhà ông Phi nằm giữa làng, từ xa đã nghe tiếng lách cách đục đẽo. Xưởng mộc nhỏ nằm bên sân nhà là "khoảng trời riêng", bày la liệt những con rối đang trong giai đoạn hoàn thiện. Ông bảo, tuy không phải là một nghệ nhân biểu diễn, nhưng những con rối cũng gắn liền với ông như duyên, như phận vậy. Thuở thanh niên, ông theo học nghề mộc, trở thành người thợ khéo tay có tiếng trong vùng. Sau này, ông thấy trong làng những người thợ làm rối vãn đi, phần vì tuổi đã cao, phần vì lý do kinh tế mà tìm đến những nghề khác. Dần dần, phường rối của làng không có rối để biểu diễn, ông Phi mới mày mò học nghề chế tác con rối, để đến bây giờ, những con rối độc đáo, tinh xảo của phường múa rối làng Ðào Thục đều do một tay ông Phi chế tác.

Gỗ làm con rối là những gốc sung mọc ở bờ ao, là loại gỗ rất nhẹ, để khi đưa xuống nước bảo đảm nổi được, lại ít thấm nước và không bị nứt. Sau đó người thợ sẽ phác thảo và đẽo gọt thanh gỗ thành hình các nhân vật. Sau nhiều lần phơi, rồi sơn, rồi kẻ mắt, kẻ mũi… mới tạo thành con rối hoàn chỉnh. Ðể làm ra những con rối đa dạng, sống động, bơi lội tung tăng ở thủy đình hay các sân khấu rối nước lớn khác, ông Phi đã cất công tìm hiểu những đường nét nhân vật qua việc sưu tầm các con rối cổ mà những người thợ già còn lưu giữ. "Bây giờ, thanh niên trong làng tìm đến những công việc nhẹ nhàng, thu nhập cao hơn. Rất may, cũng có một vài cháu có năng khiếu, có đam mê, hy vọng sẽ là những lớp thợ làm rối kế cận khi tôi mắt đã mờ, tay đã mỏi", ông Nguyễn Văn Phi chia sẻ.

Nhờ những người thợ, người nghệ nhân biểu diễn mà làng Ðào Thục vẫn đang bảo tồn, giữ gìn và phát huy nghệ thuật rối nước truyền thống có tuổi đời hơn 300 năm này. Lần giở những trang sử liệu, ông Nguyễn Thế Nghị, Trưởng phường múa rối nước dân gian Ðào Thục cho biết, trang Ðào Xá xưa (nay là làng Ðào Thục) được cụ tổ Nguyễn Ðăng Vinh truyền dạy nghề múa rối nước vào thời Vua Lê Dụ Tông (1706-1729). Yêu nghệ thuật múa rối nước, ông dồn hết tâm huyết truyền bá nghệ thuật này cho đời sau. Vì có công lớn cho nên cụ tổ Nguyễn Ðăng Vinh đã được triều đình Hậu Lê phong thần, lập bia đá năm 1735 (thời Lê Ý Tông). Hằng năm, vào ngày giỗ của ông (24-2 âm lịch), dân làng tổ chức dâng hương để tưởng nhớ công đức của vị tổ nghề.

Theo thời gian, qua bao thế hệ, nghệ thuật múa rối nước Ðào Thục trở thành nét văn hóa truyền thống độc đáo của huyện Ðông Anh nói riêng và Hà Nội nói chung. Nghệ thuật múa rối nước làng Ðào Thục là sự kết tinh từ quá trình lao động sáng tạo của người nông dân gắn liền với nghề trồng lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ. Ðến nay, qua quá trình gìn giữ và bảo tồn, phường múa rối nước dân gian Ðào Thục vẫn lưu giữ nhiều tích trò cổ, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc như: "Nhà nông cày cấy", "Trâu chui qua ống", "Phùng Hưng đánh hổ", "Lên võng xuống ngựa"…, gửi gắm khát vọng về cuộc sống bình an, hạnh phúc, ca ngợi những đức tính của người nông dân cần cù, chịu khó, giản dị…

Ông Nguyễn Văn Phi và những con rối do ông chế tác.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Trách, 61 tuổi, đã hơn 30 năm gắn liền với nghề biểu diễn rối nước ở Ðào Thục, chia sẻ, rối nước là một mảnh ký ức đẹp đẽ trong những ngày thơ ấu khốn khó của ông. Từ xưa, chẳng đủ ăn, đủ mặc, những tiết mục múa rối rất hay, rất thú vị của những cụ cao tuổi đã trở thành nguồn động viên lớn lao, là đời sống tinh thần của dân làng. Ngày ấy, sàn diễn là những cái ao nông nước. Người làng quây cót, dựng cọc tre thành sân khấu, buồng trò (nơi nghệ nhân biểu diễn). Bộ phận sang trọng nhất của sân khấu thời bấy giờ chỉ là chiếc mành cũ buông lên buông xuống. Các tích cổ được diễn không có nhạc, chỉ là những tiếng hô của những người biểu diễn trong buồng trò. Thế nhưng, mỗi buổi biểu diễn đều thu hút rất đông khán giả từ trong làng, ngoài xã. Ðám trẻ con kéo đến chật ních, mắt không rời những con rối sống động, uyển chuyển như người thật.

Theo nhiều nghệ nhân ở làng Ðào Thục, bước ngoặt của múa rối dân gian ở đây là vào năm 1984. Năm đó, một trung tâm múa rối lớn đến làng biểu diễn đã bị cuốn hút bởi những con rối và phong cách biểu diễn của những nghệ nhân Ðào Thục. Rối nước Ðào Thục khác mọi nơi là chỉ sử dụng loại rối máy sào dây, con rối lắc đều và vung vẩy được cả hai tay, dễ dàng sang phải, sang trái, đặc biệt con rối đi vào buồng trò bằng cách quay ngược trở lại. Những nghệ nhân làng Ðào Thục có thể biểu diễn các động tác như lên võng, xuống ngựa, đánh hổ… một cách hết sức linh hoạt, độc đáo. Vì thế, trung tâm múa rối đã kết hợp các nghệ nhân làng Ðào Thục tạo tiền đề thành lập phường múa rối nước dân gian Ðào Thục sau này. Hơn chục thanh niên trong làng được tập hợp lại để học nghề từ người cao tuổi trong làng. Các vở diễn được dàn dựng chuyên nghiệp, không chỉ có những tiếng hô đơn điệu, mà có thêm âm nhạc để hấp dẫn hơn. Nhiều vở mới được sáng tạo để tránh sự đơn điệu, nhất là vở "Hà Nội 12 ngày đêm Ðiện Biên Phủ trên không", được nghệ nhân già Ðinh Thế Văn sáng tác vào năm 1984, thể hiện sống động tính chất ác liệt của chiến tranh, ngợi ca tinh thần mưu trí, dũng cảm của quân và dân Thủ đô trong trận chiến thắng B52 lịch sử mùa đông năm 1972. Cũng từ năm 1984, rối nước Ðào Thục đã vượt lũy tre làng, đến với những sân khấu lớn, các festival và biểu diễn ở nhiều sự kiện quan trọng của đất nước. Vào Ngày hội văn hóa các dân tộc năm 1989, phường rối nước dân gian Ðào Thục đã đoạt Huy chương vàng. Tại Liên hoan múa rối nước toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1994, phường đoạt Huy chương bạc.

Hiện nay, phường múa rối nước dân gian Ðào Thục đã quy tụ được gần 50 nghệ nhân biểu diễn. Ðó đều là những nông dân, thợ thủ công, có cả học sinh trung học, có tâm huyết, muốn gắn bó lâu dài với nghề múa rối nước dân gian truyền thống của quê hương. Những người trẻ muốn theo đuổi nghệ thuật múa rối đều phải trải qua nhiều quá trình gian nan. Ban đầu, phải học, luyện từng động tác ở trên cạn lẫn dưới nước. Sau một thời gian dài luyện tập, người biểu diễn sẽ biết cách sử dụng loại máy sào kết hợp điều khiển dây để quân rối quay đầu và vung vẩy đều hai tay, chuyển sang phải hay sang trái rất dễ dàng trên mặt nước. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Trách, học nghề khó, nhưng theo được nghề còn gian nan hơn rất nhiều. Mặc dù diễn đều đặn 15 đến 20 tua/tháng, cả trong làng và ngoài làng, nhưng các thành viên trong phường rối Ðào Thục đều không có lương cố định; thu nhập từ biểu diễn chỉ đạt trung bình khoảng hai triệu đồng/người/tháng. Các thành viên phải kiếm thêm nghề khác để tăng thu nhập.

Theo ông Nguyễn Thế Nghị, Trưởng phường múa rối nước dân gian Ðào Thục, hiện nay, rối nước Ðào Thục đang đi đúng hướng, khi phường đã có thỏa thuận hợp tác với nhiều công ty du lịch, lữ hành để trở thành điểm đến của du khách. Chính quyền các cấp cũng đã chọn nơi đây là một điểm nhấn trong bản đồ du lịch huyện Ðông Anh. Rối nước Ðào Thục cũng được quảng bá trên các kênh truyền hình, website du lịch… Nhờ đó, đến nay các suất diễn tại sân khấu của làng khá đều đặn; phường được mời đi biểu diễn ở cả trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, cái khó của việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống ngay tại mảnh đất quê hương vẫn nằm ở thế hệ kế cận. "Nhiều thanh niên có tài, có đam mê rối nước nhưng với mức thù lao quá thấp, công việc vất vả cho nên họ đành rút lui. Chúng tôi đã nhiều lần vận động, tuyên truyền lớp trẻ quan tâm đến nghệ thuật truyền thống của quê hương, thậm chí UBND huyện sẵn sàng hỗ trợ để đào tạo đội ngũ kế cận, nhưng các phương pháp này cũng chưa thật sự mang lại kết quả như mong đợi. Ðiều cần nhất bây giờ là sự quan tâm, sâu sát của chính quyền địa phương cũng như Nhà nước để chúng tôi có thêm kinh phí để nâng cao chất lượng vở diễn, nâng cao chất lượng dịch vụ và quan trọng nhất là để những nghệ nhân biểu diễn, nhất là những người trẻ có thể bảo đảm cuộc sống, gắn bó với nghề. Nếu không có lớp kế cận thì rối nước Ðào Thục sẽ không phát triển được, thậm chí dần bị mai một và chìm vào quên lãng như nhiều nghề truyền thống khác", ông Nguyễn Thế Nghị chia sẻ.

Có thể bạn quan tâm

Triển lãm “Gieo xanh nơi đỉnh mây” thu hút sự quan tâm của công chúng.

"Gieo xanh nơi đỉnh mây": Chuyện về những người phụ nữ vùng cao với nỗ lực bảo tồn di sản

"Gieo xanh nơi đỉnh mây" là kết quả của đề tài nghiên cứu "Hành trình kể câu chuyện du lịch sinh thái của phụ nữ Việt Nam anh hùng thích ứng với biến đổi khí hậu" do Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Hull, Đại học Loughborough (Anh) và Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam thực hiện từ tháng 7/2024-12/2025.

(Ảnh minh họa)

Ra mắt cuốn sách “Đầu tư vàng thực chiến”: Cẩm nang sinh tồn trong kỷ nguyên biến động

Giữa bối cảnh giá vàng liên tục nhảy múa và phá vỡ mọi quy luật truyền thống, tháng 3, Nhà xuất bản Công thương và Công ty Văn hóa và Truyền thông 1980 Books ra mắt cuốn sách “Đầu tư vàng thực chiến” của tác giả Du Hiệp như một tấm bản đồ định hướng, giúp nhà đầu tư rũ bỏ tâm lý đám đông để làm chủ cuộc chơi tài chính.

Tỉnh Bắc Ninh đón nhận bằng ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và lẵng hoa do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện Liên hợp quốc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao tặng.

Bắc Ninh đón nhận ghi danh của UNESCO cho di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ cần được bảo vệ khẩn cấp

Tối 27/3, tỉnh Bắc Ninh đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp; Công bố Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử-Vĩnh Nghiêm-Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản văn hóa thế giới và Khai mạc Festival “Về miền di sản Bắc Ninh 2026”.

Nhà văn Xuân Thiều (bên trái) trong chuyến công tác tại đường mòn Trường Sơn thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước năm 1971 (Ảnh tư liệu).

Tiếng trống trường và nghĩa tình đồng đội

Với nhiều thế hệ cầm bút, nhà văn quân đội Nguyễn Xuân Thiều là tấm gương lao động tận tụy trên “cánh đồng văn chương”. Ông đã để lại di sản lớn trong nền văn học cách mạng với nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật, sống mãi với thời gian và trong ký ức đồng nghiệp, nhất là những người từng đi qua chiến tranh.

Các ấn phẩm của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trưng bày tại một sự kiện ở Cần Thơ.

Bước chuyển tư duy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số

Chỉ thị số 04-CT/TW năm 2026 được ban hành trong một không gian phát triển hoàn toàn mới. Chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công nghệ đang định hình lại toàn bộ chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiếp nhận tri thức, còn văn hóa, dữ liệu, nội dung số ngày càng trở thành nguồn lực phát triển quan trọng của quốc gia.

Ao làng rộn rã tiếng cười khi các em học sinh xem biểu diễn rối nước.

Ra mắt mô hình công nghiệp văn hóa phức hợp tại Hà Nội

Nhằm khai thác giá trị di sản cho phát triển công nghiệp văn hóa, Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp các bên triển khai mô hình công nghiệp văn hóa phức hợp, kết hợp giữa nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa và giáo dục di sản dành cho học sinh tại làng rối nước Đào Thục.

Thư viện số “Mặt trời nhỏ” là dự án cộng đồng mở ra cơ hội thụ hưởng các tác phẩm văn học cho trẻ em Việt Nam. (Ảnh: VTV)

VTV3 khởi động hành trình mới

Tháng 3, kênh VTV3 kỷ niệm sinh nhật tuổi 30, cũng là thời điểm Ban Văn hóa-Giải trí khởi động hành trình mới nhằm nâng cao hiệu quả các chương trình, đặc biệt là lan tỏa giá trị văn hóa, nghệ thuật đến đông đảo công chúng.

Phối cảnh sân khấu chương trình nghệ thuật "Tinh hoa di sản ngàn năm tỏa rạng".

“Dòng chảy di sản có thể cảm nhận bằng nhiều giác quan”

Ngày 9/12/2025, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Nhân Lễ đón nhận bằng của UNESCO và Khai mạc Festival "Về miền di sản Bắc Ninh 2026", Tổng đạo diễn Đặng Lê Minh Trí đã nói về chương trình nghệ thuật "Tinh hoa di sản ngàn năm tỏa rạng" - điểm nhấn của sự kiện.

Diễn đàn xuất bản số từng diễn ra với sự tham gia của nhiều chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, nhà xuất bản và các đơn vị nội dung số.

Hoàn thiện hệ sinh thái xuất bản trong kỷ nguyên số

Theo đại diện Cục Xuất bản, In và Phát hành, hiện cả nước có 52 nhà xuất bản, năm 2025, toàn ngành thực hiện hơn 51.000 xuất bản phẩm với khoảng 543 triệu bản và lượt truy cập, tổng doanh thu của toàn ngành đạt hơn 4.100 tỷ đồng. Nhiều khó khăn và thách thức đang đặt ra đối với ngành xuất bản.

Áo dài di sản của ba miền bắc, trung, nam được giới thiệu tại chương trình "Sắc màu Việt Nam".

“Sắc màu Việt Nam” – Đưa hình ảnh đất nước con người Việt Nam đến gần hơn với người dân Philippines

Sự kiện “Sắc màu Việt Nam” đã góp phần củng cố giao lưu nhân dân và thúc đẩy hiểu biết giữa Việt Nam và Philippines trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; thể hiện nỗ lực hợp tác văn hóa-du lịch trong bối cảnh ASEAN ngày một chú trọng kết nối cộng đồng và bản sắc văn hóa.

Tọa đàm “Phát huy giá trị lịch sử-văn hóa trong nghệ thuật biểu diễn đương đại”.

Đánh thức giá trị lịch sử-văn hóa qua ngôn ngữ nghệ thuật biểu diễn

Trong dòng chảy không ngừng của xã hội hiện đại, những giá trị lịch sử-văn hóa không chỉ cần được gìn giữ, mà còn cần được lan tỏa bằng nhiều hình thức sáng tạo. Và nghệ thuật biểu diễn chính là một “kênh” hiệu quả để tái hiện ký ức, để những câu chuyện của quá khứ được kể lại sống động, hấp dẫn trong cuộc sống hôm nay.

Nghệ nhân ưu tú Lê Văn Ngộ (áo đỏ) và các nhà nghiên cứu cùng các bạn trẻ đại diện nhóm “Gõ chầu thiên hội”.

Từ điền dã đến không gian số: Hành trình lan tỏa giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ

Sáng 26/3, tại Thánh đường Thiên Tiên Thánh giáo (thành phố Huế), Dự án “Gõ chầu thiên hội” triển khai chương trình điền dã với chủ đề “Hầu đồng Huế-Hành trình di sản”. Hoạt động tập trung khảo sát thực địa, ghi nhận và bổ sung tư liệu cho nền tảng số hóa các giá trị thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ trên cả nước.