Quyết liệt giải ngân đầu tư công nguồn vốn nước ngoài

Không cho phép kéo dài kế hoạch vốn năm 2022, những trường hợp không giải ngân hết, sẽ bị hủy bỏ số vốn theo quy định của Luật Đầu tư công… Giải pháp cứng rắn vừa được Bộ Tài chính đưa ra là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ chấm dứt tình trạng giải ngân đầu tư công nguồn vốn nước ngoài đang đạt tỷ lệ thấp.
Thi công đoạn trên cao và depot thuộc gói thầu CP2 của tuyến Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên). Ảnh: TTXVN
Thi công đoạn trên cao và depot thuộc gói thầu CP2 của tuyến Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên). Ảnh: TTXVN

Tiến độ ì ạch

Với mục tiêu nhanh chóng phục hồi nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, việc đẩy mạnh công tác giải ngân vốn đầu tư công được Quốc hội, Chính phủ hết sức quan tâm; trong đó có nguồn vốn vay nước ngoài. Tuy nhiên, ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, tỷ lệ giải ngân đầu tư công vốn nước ngoài 11 tháng năm 2022 đã gấp gần ba lần tỷ lệ giải ngân sáu tháng đầu năm 2022 (9,12% kế hoạch vốn), nhưng vẫn thấp hơn hẳn so kết quả giải ngân nguồn vốn đầu tư công trong nước.

Quả vậy, theo báo cáo của Bộ Tài chính, lũy kế giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công nguồn vay nước ngoài 11 tháng theo kế hoạch năm 2022 mới đạt 26,06% với 9.014,59 tỷ đồng (trong đó, giải ngân của các bộ, ngành là 4.154,05 tỷ đồng, đạt 35,17%, giải ngân của các địa phương là 4.860,54 tỷ đồng, đạt 21,34%).

Đáng chú ý, đến ngày 30/11/2022, thời điểm sắp kết thúc năm tài chính 2022, Bộ Tài chính nhận được đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn của 8/13 bộ, ngành với tổng số vốn đề nghị giảm là 3.678,5 tỷ đồng (số này không bao gồm 250,364 tỷ đồng của Bộ Tài nguyên và Môi trường; và 50 tỷ đồng của Bộ Y tế đã được chấp thuận điều chỉnh giảm). Cùng với đó, 35/59 địa phương cũng đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn với tổng số vốn đề nghị giảm là 8.804,5 tỷ đồng.

Bộ Tài chính cũng cho biết, có tới 54 địa phương và 10 bộ có tỷ lệ giải ngân dưới 50%. Trong đó sáu bộ và bốn địa phương có tỷ lệ giải ngân 0%; ba bộ và năm địa phương có tỷ lệ giải ngân trên 50% kế hoạch vốn. Trong tổng số 294 dự án, cả nước được giao kế hoạch vốn đầu tư công nguồn nước ngoài năm 2022, có đến 114 dự án chưa giải ngân với số vốn được giao là 6.235,2 tỷ đồng, chiếm 18,03% kế hoạch; 47 dự án giải ngân dưới 20%; 59 dự án giải ngân trong khoảng 20-50%; 74 dự án giải ngân hơn 50%.

Bên cạnh đó, theo Công văn số 3261/BKHĐT-TH ngày 19/5/2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về thông báo kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách năm 2021 sang năm 2022, vốn đầu tư công nguồn vốn nước ngoài trong kế hoạch vốn năm 2021 được kéo dài sang năm 2022 là 5.321,9 tỷ đồng. Dẫu vậy, đến hết tháng 11 vừa qua, tỷ lệ giải ngân của phần vốn này cũng chỉ đạt 23,65% (1.233,7 tỷ đồng).

Phối hợp tháo gỡ vướng mắc

Về nguyên nhân dẫn đến chậm giải ngân, đại diện Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính cho biết, tỷ lệ giải ngân đầu tư công nguồn vốn nước ngoài thấp chủ yếu xuất phát từ các vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện dự án, dẫn đến việc không có khối lượng hoàn thành để giải ngân. Bên cạnh đó, nhiều dự án đã có khối lượng hoàn thành nhưng chưa được kiểm soát chi, thậm chí đã kiểm soát chi nhưng chưa được tập hợp để gửi hồ sơ rút vốn.

Cụ thể, những dự án chưa có khối lượng hoàn thành thường do các nguyên nhân như: Chậm triển khai các công tác sẵn sàng cho đầu tư, chậm giải phóng mặt bằng, tái định cư; chậm thiết kế cơ sở; chậm đấu thầu, vướng mắc trong đấu thầu hoặc vướng trong thực hiện hợp hiện hợp đồng với nhà thầu; dự án thực hiện các thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án, điều chỉnh hiệp định vay; dự án chậm tiến hành công tác nghiệm thu, thanh toán hoặc đang kiện toàn ban quản lý dự án; dự án không triển khai được do ảnh hưởng thời tiết, bão lũ, sạt lở,... Một nguyên nhân khác là những dự án có kế hoạch vốn năm 2021 kéo dài, về nguyên tắc, phải được thực hiện và giải ngân trước ngày 31/12/2022 nhưng thực tế, kế hoạch vốn kéo dài này được thông báo và giao chậm (tháng 5/2022) nên nhiều dự án không thể giải ngân trước kế hoạch vốn năm 2022, đồng thời kế hoạch vốn năm 2021 kéo dài cũng bị chậm giải ngân.

Với thực trạng kết quả giải ngân vốn nước ngoài nói trên, Thứ trưởng Tài chính Võ Thành Hưng đánh giá, nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công nói chung, trong đó có nguồn vốn nước ngoài của Chính phủ trong hai tháng còn lại của kế hoạch vốn năm 2022, đặt ra rất nhiều thách thức, cần có các biện pháp giải quyết kịp thời. Ông Võ Thành Hưng cũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát các vướng mắc, bám sát từng dự án để chỉ đạo các nhà thầu thực hiện, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ thủ tục thanh toán, rút vốn. Cùng với đó, rà soát lại quy chuẩn, tiêu chuẩn định mức, đơn giá vật tư thiết bị phù hợp mặt bằng giá mới; báo cáo cụ thể với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để có đánh giá chuẩn xác số liệu, nêu rõ khó khăn, vướng mắc, cam kết triển khai, đề xuất giải pháp; Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét các vấn đề về thủ tục, kiến nghị của các bộ, ngành, địa phương, trong đó có điều chỉnh tổng mức, điều chỉnh kế hoạch vốn.

Để thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, Bộ Tài chính cũng đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 114/2021/NĐ-CP ngày 16/12/2021 về quản lý và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài phù hợp Luật số 03/2022/QH15, ban hành ngày 11/1/2022, theo hướng đơn giản hóa quy trình, thủ tục nhằm tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc trong giải ngân vốn nước ngoài, tăng cường phân cấp trong quản lý, sử dụng vốn ODA gắn với trách nhiệm của cấp, đơn vị sử dụng vốn ODA. Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải phối hợp các bộ, ngành liên quan rà soát, nghiên cứu bổ sung xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn định mức, đơn giá vật tư, thiết bị chuyên ngành đường sắt để có căn cứ áp dụng, thực hiện.

Nếu không chấm dứt vòng lặp lại của tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công nguồn vốn vay nước ngoài, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nỗ lực phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 cũng như đến kết quả thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của giai đoạn trung hạn 2021-2025.

Có thể bạn quan tâm

PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam 2026 (VCSF 2026), diễn ra tại Hà Nội ngày 5/10. Ảnh: Nguyễn Hùng

Định hình hành trình tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững

Năm 2026 mở ra yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung: Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô, mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Điều đáng nói, đích đến của tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số như mục tiêu đã đề ra phải được đặt trên một nền tảng bền vững và doanh nghiệp chính là chủ thể trung tâm của mô hình này.

Trên các màn hình lớn tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE), Mỹ, từ phiên giao dịch ngày 21/9, hình ảnh cờ đỏ sao vàng cùng lời chúc mừng Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã xuất hiện.

Dấu mốc quan trọng, củng cố niềm tin thị trường

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức tham gia rổ chỉ số cổ phiếu toàn cầu FTSE Russell Global Equity Index Series (FTSE GEIS) vào ngày 21/9 vừa qua, mở ra cơ hội lớn thu hút dòng vốn quốc tế. Song, khả năng tận dụng cơ hội này không chỉ phụ thuộc vào những cải cách từ phía cơ quan quản lý, mà còn nằm ở chính nội lực của các doanh nghiệp niêm yết.

Dư địa thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Ảnh minh hoạ

Nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi

Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.

Mặc dù đầu tư FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi sản xuất của khu vực FDI. Ảnh: Danh Lam

Chính sách thuế cần tạo động lực tăng trưởng mới

Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ hay ưu đãi thuế suất ngày càng thu hẹp, chính sách thuế cần chuyển mạnh sang khuyến khích tăng trưởng nhờ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.

Việc Chính phủ nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế lên 1 tỷ đồng là động lực khiến nhiều hộ kinh doanh quan tâm hơn tới việc quản lý doanh thu, vận hành kinh doanh bài bản. Ảnh: Thành Đạt

Thúc đẩy lòng trung thực trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm là chính sách thể hiện rõ chủ trương đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình CSI 2026 phát biểu tại Lễ phát động.

Nối dài hành trình đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Hành trình 11 năm không chỉ là dấu mốc về mặt thời gian, mà còn cho thấy sự kiên định của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thúc đẩy mô hình tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.

Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.

Thích ứng với các xu hướng phòng vệ thương mại mới

Thường xuyên tổ chức điều tra “kép”, điều tra “chùm” đối với hàng hóa Việt Nam, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.

Nhu cầu nhập nguyên liệu, thiết bị tăng mạnh phục vụ sản xuất và xuất khẩu là minh chứng rõ nét về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với một nền sản xuất bền vững.

Chỉ dấu tích cực về một chu kỳ phát triển mới

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong bốn tháng đầu năm đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước.