Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội

Chiều 17/2, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)

Kết quả biểu quyết điện tử cho thấy, có 461/461 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (bằng 96,44% tổng số đại biểu Quốc hội).

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội biểu quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, đa số ý kiến các đại biểu Quốc hội tán thành quy định tại Điều 5 nhằm phân định thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.

Một số ý kiến tuy tán thành nhưng đề nghị chuyển sang quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng. (Ảnh: DUY LINH)

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng. (Ảnh: DUY LINH)

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc quy định nội dung này trong Luật Tổ chức Quốc hội là xuất phát từ yêu cầu Luật Tổ chức Quốc hội phải phân định rõ ràng, rành mạch phạm vi, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan theo đúng quy định của Hiến pháp.

Đây là đạo luật quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nên cần bổ sung và làm rõ hơn thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ “làm luật và sửa đổi luật” quy định tại khoản 1 Điều 70 của Hiến pháp năm 2013; thống nhất với cách thức quy định hiện nay tại dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) và dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) cũng được Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp này.

Hơn nữa, việc sửa đổi, bổ sung Điều 5 nhằm cụ thể hóa yêu cầu về đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật, xác định rõ phạm vi những nội dung cần được quy định bằng luật, nghị quyết của Quốc hội và quy định có tính nguyên tắc, định hướng về mức độ chi tiết cần được quy định trong luật, làm cơ sở cho việc thực hiện thẩm quyền làm luật và sửa đổi luật của Quốc hội.

Với tinh thần đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho giữ nội dung này trong dự thảo Luật và chỉnh lý các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 5 để bảo đảm phù hợp với Kết luận số 119-KL/TW của Bộ Chính trị và thống nhất với dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Về Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (các điều 66, 67 và 68a), đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành cách thức quy định về Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội như trong dự thảo Luật. Một số ý kiến góp ý cụ thể về tên gọi, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.

Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo tiếp thu, chỉnh lý quy định về cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại Điều 67 theo hướng Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ tịch Hội đồng Dân tộc/Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các Phó Chủ tịch/Phó Chủ nhiệm, các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Tiếp thu, chỉnh lý quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại Điều 68a.

Các ý kiến góp ý về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội sẽ được tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và sẽ thông qua ngay sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc tổ chức các cơ quan của Quốc hội.

Về việc thành lập các Tiểu ban của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy việc thành lập các Tiểu ban để hoạt động thường xuyên hoặc theo từng công việc, dự án cụ thể là một trong những phương thức hoạt động của Hội đồng, Ủy ban, chứ không phải là cơ cấu tổ chức cứng của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Căn cứ vào Kết luận số 111/KL-TW của Bộ Chính trị, dự thảo Luật đã thể chế hóa các thành tố hợp thành cơ cấu tổ chức của Hội đồng, Ủy ban.

Việc thành lập Tiểu ban sẽ được quy định trong Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội như một phương thức tổ chức công việc của các cơ quan này để bảo đảm linh hoạt và phù hợp với cách thức quy định về các cơ quan của Quốc hội.

Kết quả biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)

Kết quả biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. (Ảnh: DUY LINH)

Về kỳ họp Quốc hội (Điều 90), Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng cho biết, một số ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị thay cụm từ “Quốc hội họp bất thường” tại khoản 2 Điều 90 thành “Quốc hội họp không thường lệ” hoặc Quốc hội có kỳ họp chuyên đề.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp thu ý kiến nêu trên để sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 90 và sửa kỹ thuật tại khoản 1, khoản 3 Điều 33, khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 92 của Luật Tổ chức Quốc hội theo hướng cụ thể hóa quy định về “Quốc hội họp bất thường” tại khoản 2 Điều 83 của Hiến pháp thành "Kỳ họp không thường lệ".

Theo đó, Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Kỳ họp không thường lệ của Quốc hội được tổ chức khi có yêu cầu của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội để kịp thời xem xét, quyết định các vấn đề cấp bách thuộc thẩm quyền của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Đồng thời, sẽ tiếp tục nghiên cứu việc đánh số các kỳ họp thường lệ và không thường lệ của Quốc hội cho phù hợp để thực hiện thống nhất từ nhiệm kỳ sau.

Ngoài các nội dung nêu trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo nghiên cứu, rà soát, tiếp thu tối đa ý kiến của các đại biểu Quốc hội, ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan để chỉnh lý cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp.

"Dự thảo Luật sau khi tiếp thu, chỉnh lý đã sửa đổi, bổ sung 21 điều (tăng 4 điều so với dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến) và bãi bỏ 17 điều của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành; bảo đảm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật", Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng cho hay.

Có thể bạn quan tâm

Đẩy mạnh bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức. (Ảnh: baochinhphu.vn)

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng số

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức. Đây được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Nhân chứng lịch sử ở xã Hưng Nguyên Nam nói chuyện về ngày Đại thắng 30/4 hào hùng.

Hưng Nguyên Nam: Viết tiếp câu chuyện hòa bình trên quê hương cách mạng

Nửa thế kỷ sau Đại thắng mùa Xuân 1975, ký ức chiến tranh trên quê hương Hưng Nguyên Nam (Nghệ An) vẫn được gìn giữ như mạch nguồn bồi đắp niềm tự hào dân tộc, hun đúc lý tưởng cho thế hệ trẻ, đồng thời trở thành động lực để địa phương vững bước phát triển trong thời kỳ mới.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và Đoàn công tác Trung ương tham dự Chương trình.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thăm tặng quà tại Quảng Ninh

Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4) và Quốc tế Lao động (1/5), Đoàn công tác Trung ương do đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đã đến thăm, tặng quà các gia đình chính sách, công nhân, lao động có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Lãnh đạo thành phố Đông Hưng tặng hoa chào mừng Đoàn đại biểu các xã, phường tỉnh Quảng Ninh sang dự kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập thành phố Đông Hưng.

Tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị biên giới Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc)

Ngày 29/4, Đoàn đại biểu các xã, phường tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) gồm Móng Cái 1, Móng Cái 2, Móng Cái 3 và xã Hải Sơn do đồng chí Hồ Quang Huy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Móng Cái 1 làm Trưởng đoàn đã tham dự chương trình kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập thành phố Đông Hưng, Trung Quốc 29/4 (1996-2026).

Một góc Di tích lịch sử quốc gia Trận Giồng Bốm (thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau) ngày nay nhìn từ trên cao.

80 năm Trận Giồng Bốm: Tri ân quá khứ, kiến thiết tương lai

Sáng 30/4, trong không khí hào hùng của những ngày tháng Tư lịch sử, tỉnh Cà Mau đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (1946-2026). Đây là một trong những sự kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử sâu sắc, cũng là một trong nhiều hoạt động thiết thực chào mừng 51 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Thành phố Hồ Chí Minh năng động, phát triển.

Một điểm đến an toàn, một Thành phố đáng sống

51 năm sau ngày đại thắng, Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định là siêu đô thị năng động, đầu tàu kinh tế của cả nước. Với tư duy đổi mới và quản trị nhân văn, Thành phố không chỉ bứt phá về hạ tầng, tài chính mà còn bồi đắp giá trị nghĩa tình sâu sắc, khẳng định là điểm đến an toàn, một Thành phố đáng sống.

Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tại Nam Sudan trao quà tặng người dân địa phương.

Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa nhân dịp 30/4 và 1/5

Các hoạt động thiết thực nhân dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và Ngày Quốc tế Lao động thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tích cực, chủ động của lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam trong việc tham gia xây dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững tại Nam Sudan.

Việt Nam và Nhật Bản tăng cường hợp tác y tế. (Ảnh ĐẠI SỨ QUÁN NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM)

Viết tiếp câu chuyện của tình hữu nghị

Trên hành trình hơn 50 năm đồng hành và vun đắp quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Nhật Bản đã đạt được nhiều bước tiến tích cực, sâu rộng trong hợp tác song phương. Những thành tựu này chính là nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục kiến tạo tương lai hợp tác lâu dài và bền vững.