Tăng giá trị từ rừng
Thay đổi trong tư duy quản lý của chính quyền, cách canh tác của người dân trong phát triển kinh tế lâm nghiệp ở Thái Nguyên đã và đang tạo ra những dấu ấn và nền tảng mới. Trong đó, việc triển khai trồng, cấp chứng chỉ rừng quốc tế FSC đã mang lại giá trị kinh tế cao.
Thanh Thịnh vốn là xã có tiếng về trồng rừng keo ở phía bắc của Thái Nguyên. Tuy nhiên, trước đây, người dân trồng rừng theo phong trào, chính quyền mới chỉ quan tâm tới tăng diện tích, chưa chú trọng phát triển rừng FSC. Do vậy, dù diện tích rừng trồng lớn nhưng giá trị kinh tế mang lại trên mỗi héc-ta chưa tương xứng tiềm năng. Trong khi tình trạng bán gỗ keo non tuổi diễn ra thường xuyên, làm giảm giá trị thu lợi và ảnh hưởng chất lượng rừng trồng.
Nhờ thay đổi suy nghĩ, cách làm, mạnh dạn tiếp cận và hướng tới thị trường lớn, đến nay, Thanh Thịnh đã trở thành điểm sáng trong phát triển rừng đạt chứng chỉ FSC. Toàn xã hiện có hơn 3.600 ha rừng đạt chứng chỉ với sự tham gia của hơn 1.200 hộ dân, thuộc diện lớn nhất tỉnh. Thay vì chỉ tập trung chăm sóc, phát cỏ trong 3 năm đầu như trước đây, nay được hướng dẫn, người trồng rừng đã biết và thành thạo kỹ thuật trồng, phương pháp tỉa thưa, chăm sóc..., đồng thời áp dụng đúng quy trình, cho nên rừng FSC cho cây gỗ có thân thẳng, đường kính lớn, đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc chế biến xuất khẩu, tăng thu nhập.
Chị Vũ Thị Ngoan, ở thôn Khe Thỉ 2 cho biết, bằng quy trình kỹ thuật được hướng dẫn, rừng trồng sinh trưởng đồng đều, tăng sinh khối nhanh, hạn chế sâu bệnh. Chất lượng rừng được nâng hẳn lên, cho giá trị khai thác bình quân đạt 200 triệu đồng/ha, cao hơn hẳn so với rừng canh tác thông thường.
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các địa phương có lợi thế về đất lâm nghiệp đều đã sớm xác định và thúc đẩy hiệu quả phong trào trồng rừng, tạo sinh kế bền vững. Theo Bí thư Đảng ủy xã Nghĩa Tá Ma Doãn Kháng, toàn xã có hơn 13.000 ha đất lâm nghiệp thì đã có hơn 5.300 ha rừng trồng và còn dư địa lớn để trồng mới. Phong trào trồng rừng phát triển giúp tỷ lệ đóng góp của ngành lâm nghiệp vào cơ cấu kinh tế của xã lên tới 40% và là sinh kế chính của người dân. Hoạt động trồng rừng đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, với thu nhập bình quân từ trồng rừng đạt hơn 120 triệu đồng/hộ dân/năm.
Gắn với quản lý rừng bền vững
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn vừa qua, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp của tỉnh tăng bình quân 6,5%. Diện tích rừng FSC đạt 37.532 ha; diện tích trồng rừng gỗ lớn hơn 42.000 ha. Nhờ vùng nguyên liệu dồi dào, toàn tỉnh hiện có 746 cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản, trong đó có một số nhà máy lớn, như: Công ty cổ phần Dongwa sản xuất ván gỗ MDF; Công ty cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ; Công ty TNHH Lechenwood; Công ty cổ phần Đầu tư GOVINA... Các mặt hàng lâm sản sau chế biến đã xuất khẩu đi Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... Tuy nhiên, có thể thấy, giá trị kinh tế mang lại từ lâm nghiệp ở Thái Nguyên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, nhất là dư địa về rừng gỗ lớn và phát triển thị trường carbon rừng chưa được khai phá hết. Điều đó đặt ra đòi hỏi và thách thức đối với Thái Nguyên về cơ cấu nội ngành lâm nghiệp.
Trước thực tế này, các địa phương có nhiều quỹ đất lâm nghiệp và rừng đã chủ động tìm giải pháp để thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế lâm nghiệp. Thần Sa là xã hiện có tỷ lệ che phủ rừng lên tới hơn 83%, trong đó, phần lớn là rừng đặc dụng chiếm hơn 9.100 ha, rừng sản xuất chỉ có hơn 1.270 ha. Thách thức đặt ra là làm sao quản lý, bảo vệ rừng bền vững, nhưng vẫn phải giúp người dân sống được nhờ bảo vệ rừng. Theo đại diện Đảng ủy xã, để công tác bảo vệ và phát triển rừng thật sự gắn liền với nâng cao đời sống người dân, xã đã kiến nghị tỉnh đầu tư, nâng cấp các tuyến giao thông nông thôn để vừa thuận lợi thông thương vừa hỗ trợ tuần tra, bảo vệ rừng. Đồng thời đề nghị tỉnh tăng cường hỗ trợ, hướng dẫn xây dựng hồ sơ, thủ tục, kết nối để tham gia thị trường tín chỉ carbon, hỗ trợ thực hiện hiệu quả việc chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Bí thư Đảng ủy xã Yên Thịnh Hoàng Văn Lăng cho biết, xã đã và đang đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích người dân trồng rừng gỗ lớn, kéo dài chu kỳ khai thác của rừng sản xuất; tạo vùng nguyên liệu ổn định gắn với quy hoạch chế biến gỗ. Cùng với đó, đang tập trung thúc đẩy phát triển ngành nghề đan lát mây, tre và phát triển kinh tế dược liệu dưới tán rừng.
Để phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với quản lý, bảo vệ rừng bền vững, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo, giai đoạn 2026-2030 phải cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành lâm nghiệp. Mục tiêu đến năm 2030 phải bằng 8,5-9% trong tổng cơ cấu nội ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 5,5%/năm. Trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng tiềm năng, lợi thế của từng vùng, Tỉnh ủy Thái Nguyên yêu cầu triển khai quyết liệt bốn nhiệm vụ trọng tâm, gồm: Phát triển rừng gỗ lớn; quản lý rừng bền vững, phát triển thị trường carbon; phát triển cây quế; mở rộng cây hồi. Theo đó, Thái Nguyên sẽ tập trung mở rộng rừng gỗ lớn và cấp chứng chỉ rừng bền vững tại các xã Bạch Thông, Ngân Sơn, Chợ Mới, Chợ Đồn, Đồng Hỷ, Na Rì... Mục tiêu đến năm 2030, diện tích rừng gỗ lớn và rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững chiếm 20% tổng diện tích rừng sản xuất; hình thành và phát triển vùng trồng quế và hồi tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa để đến năm 2030 sẽ có 18.000 ha quế và 4.000 ha hồi.
Tỉnh cũng sẽ hoàn thành việc giao đất, giao rừng, cho thuê rừng gắn với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, bảo đảm tất cả diện tích rừng và đất được quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp được giao, cho thuê đến chủ rừng. Mục tiêu đặt ra là diện tích trồng rừng hằng năm đạt 6.000 ha; sản lượng khai thác lâm sản đạt bình quân 700.000m³ /năm; nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ nguyên liệu trong tỉnh; khuyến khích dùng gỗ rừng trồng (đạt tiêu chuẩn FSC), giảm dần tỷ lệ gỗ nguyên liệu nhập khẩu. Vì thế, tỉnh sẽ tiếp tục điều tra trữ lượng rừng, carbon rừng; xây dựng kịch bản dự báo tiềm năng phát triển carbon rừng; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, tăng cường năng lực, thông tin cho các bên có liên quan về dịch vụ, phương thức tạo và trao đổi, thương mại tín chỉ carbon rừng.