Tiềm năng rất lớn
Tỉnh Đồng Tháp có tổng diện tích gần 135.000ha cây ăn trái, sản lượng trên 2,5 triệu tấn, trong đó, diện tích sầu riêng trên 32.100ha, mít khoảng 24.600ha. Hiện, sầu riêng cho trái trên 22.100ha, sản lượng gần 557.000 tấn; mít khoảng 21.000ha, sản lượng 437.400 tấn…
Địa phương được cấp mã số vùng trồng trên 1.144ha, trong đó, sầu riêng 350 mã số, mít 180 mã số; diện tích được cấp mã số vùng trồng là 51.000ha, trong đó, sầu riêng trên 13.600ha, mít trên 6.000ha; gần 500 mã số cơ sở đóng gói, trong đó, sầu riêng có 111 mã số, mít 110 mã số.
Đồng chí Trần Thanh Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đồng Tháp cho biết, thời gian qua, sầu riêng và mít khó tiêu thụ là do thiếu cơ sở kiểm nghiệm, nhiều đơn vị dừng nhận mẫu (quá tải, bảo trì) dẫn đến ùn tắc kiểm nghiệm từ ngày 10-25/3. Nhiều cơ sở đóng gói không kịp bổ sung giấy tờ, đặc biệt là giấy an toàn thực phẩm, mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc… Từ đó, đầu ra và giá sầu riêng và mít gặp nhiều khó khăn, chậm trễ xuất khẩu sang Trung Quốc.
Ngoài ra, việc giám sát sau cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói của cơ quan quản lý chưa thường xuyên; ứng dụng chuyển đổi số còn hạn chế, có tình trạng gian lận nguồn gốc, sử dụng sai mã số vùng trồng; thiếu thông tin phản hồi về sản lượng theo mã số nên ngành chức năng địa phương khó quản lý.
Vấn đề này, đồng chí Lê Hà Luân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp: “Thời gian qua, nhu cầu thị trường thế giới đối với sầu riêng và mít là rất lớn. Chúng ta có thế mạnh về diện tích và sản lượng nhưng chất lượng một số lô hàng chưa đáp ứng. Từ đó, đối tác nhập khẩu siết chặt chất lượng hầu hết các loại nông sản của Việt Nam. Do đó, giá nhiều loại nông sản như: Sầu riêng, mít giảm giá rất nhiều, đầu ra bị hạn chế. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về trách nhiệm của các bên, từ người nông dân, doanh nghiệp thu mua đến các rào cản kỹ thuật và hiệu quả của chính sách hỗ trợ hiện hành”.
Một trong những nguyên nhân chính khiến chuỗi giá trị chưa bền vững là sự liên kết lỏng lẻo và thiếu nhất quán. Dù quy trình đưa sản phẩm từ vườn đến bàn ăn của các thị trường khó tính hiện nay rất rõ ràng. Tuy nhiên, các tác nhân tham gia chuỗi vẫn chưa thật sự đồng hành trên một con đường minh bạch. Tình trạng tắc nghẽn thông tin giữa các bên đang là rào cản lớn khiến giá và đầu ra nông sản xuất khẩu luôn gặp khó.
Vùng nguyên liệu có tổ chức là yêu cầu bắt buộc
Thời gian qua, đa số nông dân chỉ biết làm ra sản phẩm nhưng bán cho ai, giá bao nhiêu, thời điểm nào thì phó mặc cho thị trường quyết định. Chủ tịch Hiệp hội sầu riêng Đồng Tháp Võ Tấn Lợi nhấn mạnh: Nông dân trồng sầu riêng phải biết liên kết để nắm các yêu cầu kỹ thuật từ các thị trường nhập khẩu thì ngành hàng mới đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu và xây dựng uy tín cho sầu riêng Việt Nam.
Để giải quyết tận gốc vấn đề, đồng chí Lê Hà Luân kêu gọi mỗi mắt-xích trong chuỗi liên kết phải làm hết trách nhiệm của mình. Trong đó, nông dân và hợp tác xã cần nâng cao nhận thức, tự hoàn thiện các khiếm khuyết trong sản xuất và chủ động kiến nghị những vấn đề phát sinh tại địa phương. Doanh nghiệp cần đóng vai trò là trung gian thông tin quan trọng giữa đầu vào và đầu ra. Chính quyền và các ngành chức năng cần thực hiện tốt vai trò điều phối giữa người dân, doanh nghiệp và cơ quan cấp trên. Chúng ta cần minh bạch hóa đường đi cho nông sản và xác định những việc cần điều chỉnh ngay để hướng tới một tương lai bền vững hơn.
Trong bối cảnh hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, khi thị trường ngày càng đòi hỏi chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững, đồng chí Lê Hà Luân nhấn mạnh: Việc hình thành các vùng nguyên liệu có tổ chức đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Trong đó, nông dân không còn sản xuất riêng lẻ mà được tổ chức thông qua hợp tác xã hoặc cộng đồng sản xuất, giúp thống nhất giống, quy trình kỹ thuật, lịch thời vụ và tiêu chuẩn chất lượng. Hợp tác xã giữ vai trò trung tâm trong điều phối sản xuất, kiểm soát chất lượng, tập hợp sản lượng và liên kết với doanh nghiệp.
Để hình thành vùng nguyên liệu đúng nghĩa, địa phương cần có các điều kiện đồng bộ như: Quy hoạch ổn định gắn với thị trường, hợp tác xã đủ năng lực quản trị, doanh nghiệp tham gia thật chất ngay từ đầu vào, hệ thống tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc minh bạch và vai trò kiến tạo của nhà nước thông qua hạ tầng, cơ chế liên kết và dữ liệu quản lý. Khi những yếu tố này hội tụ, vùng sản xuất mới thật sự trở thành nền tảng vững chắc cho chuỗi giá trị nông sản hiện đại.
Ngoài ra, vùng nguyên liệu có tổ chức không chỉ là một mô hình sản xuất mới, mà là một bước chuyển về tư duy phát triển nông nghiệp. Đó là chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất có tổ chức, từ tư duy chạy theo sản lượng sang tư duy tạo ra giá trị, từ cách làm manh mún sang liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà nước. Khi những chuyển biến đó diễn ra, nông nghiệp Việt Nam nói chung và Đồng Tháp nói riêng sẽ không chỉ được biết đến bởi khả năng sản xuất lớn, mà còn bởi năng lực cung ứng những nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng cao và đáp ứng các chuẩn mực ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu.