Người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu sớm từ 1/1/2026

Bộ Nội vụ đã công bố Danh mục vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Danh sách này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Bãi đá Móng Rồng, đặc khu Cô Tô. (Ảnh QUANG THỌ)
Bãi đá Móng Rồng, đặc khu Cô Tô. (Ảnh QUANG THỌ)

Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 26/2025/TT-BNV về Danh mục vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường

Theo đó, văn bản quy định Danh mục vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định tại khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 5 Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu.

Đối tượng áp dụng là người lao động và người sử dụng lao động quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 2 của Bộ luật Lao động năm 2019; Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026. Các quy định tại Thông tư này cũng áp dụng từ thời điểm trên.

Văn bản nêu rõ, thời gian người lao động làm việc trước ngày 1/1/2021 ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, hoặc nơi có phụ cấp khu vực từ mức 25% trở lên được xác định là thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường.

Cùng với đó, thời gian người lao động làm việc từ ngày 1/1/2021 đến trước ngày 1/1/2026 ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường được áp dụng theo Danh mục vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường ban hành kèm theo Thông tư số 19/2021/TT-BLĐTBXH ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Lao động-Thương binh và Xã hội.

Trong đó, thời gian người lao động làm việc từ ngày 1/7/2025 đến trước ngày 1/1/2026 ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường được xác định theo thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn tại tháng 6 năm 2025.

Thông tư số 19/2021/TT-BLĐTBXH hết hiệu lực thi hành kể từ ngày văn bản này có hiệu lực thi hành.

Danh mục được Bộ Nội vụ công bố có hơn 360 xã, 8 đặc khu, 1 đảo (đảo Hòn Hải thuộc đặc khu Phú Quý), 4 trạm đèn (Trạm đèn biển Soi Đèn (Trạm đèn đảo Thanh niên cũ); Trạm đèn biển Hạ Mai thuộc đặc khu Vân Đồn; Trạm đèn biển Sơn Chà-Hòn Sơn Chà thuộc phường Hải Vân; Trạm đèn biển Long Châu thuộc đặc khu Cát Hải); 2 bản (Bản Ho Rum và bản Mít thuộc xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị), 1 đơn vị sản xuất và hành chính khác (Nhà giàn DK1) tại 24 tỉnh, thành phố.

Tám đặc khu được đề cập trong Danh mục vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn này là: Thổ Châu, Trường Sa, Cô Tô, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hoàng Sa, Bạch Long Vĩ và Côn Đảo.

Dưới đây là Danh mục chi tiết vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn:

1. Tỉnh An Giang: Đặc khu Thổ Châu.

2. Tỉnh Cao Bằng: Các xã: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Bế Văn Đàn, Cô Ba, Cốc Pàng, Đàm Thủy, Đình Phong, Đoài Dương, Hạ Lang, Hà Quảng, Huy Giáp, Hưng Đạo, Khánh Xuân, Lũng Nặm, Lý Bôn, Lý Quốc, Nam Quang, Phan Thanh, Phục Hòa, Quang Hán, Quảng Lâm, Quang Long, Quang Trung, Sơn Lộ, Tam Kim, Tổng Cọt, Trùng Khánh, Vinh Quý, Xuân Trường, Yên Thổ.

3. Tỉnh Đắk Lắk: Các xã: Buôn Đôn, Dliê Ya, Ea Hiao, Ia Lốp, Ia Rvêi, Krông Nô, Cư Pui, Ea Bung, Ea Rốk, Ea Súp, Yang Mao.

4. Tỉnh Điện Biên: Các xã: Chà Tở, Chiềng Sinh, Mường Chà, Mường Luân, Mường Mùn, Mường Nhà, Mường Nhé, Mường Toong, Nà Bủng, Nà Hỳ, Na Son, Nậm Kè, Nậm Nèn, Núa Ngam, Pa Ham, Pu Nhi, Pú Nhung, Phình Giàng, Quảng Lâm, Sam Mứn, Sáng Nhè, Si Pa Phìn, Sín Chải, Sín Thầu, Sính Phình, Tìa Dình, Tủa Chùa, Tủa Thàng, Thanh Yên, Xa Dung.

5. Tỉnh Đồng Nai: Các xã: Bù Gia Mập, Đak Nhau, Đăk Ơ.

6. Tỉnh Gia Lai: 1. Các xã: Đak Rong, Ia Chia, Ia Dom, Ia Mơ, Ia Nan, Ia O, Ia Pnôn, Ia Púch, SRó.

7. Tỉnh Khánh Hòa: Đặc khu Trường Sa

8. Tỉnh Lai Châu: Các xã: Bum Nưa, Bum Tở, Dào San, Hồng Thu, Hua Bum, Khoen On, Khổng Lào, Khun Há, Lê Lợi, Mù Cả, Mường Kim, Mường Mô, Mường Tè, Nậm Sỏ, Nậm Cuổi, Nậm Hàng, Nậm Mạ, Nậm Tăm, Pa Tần, Pa Ủ, Pu Sam Cáp, Sì Lở Lầu, Sìn Hồ, Sin Suối Hồ, Tà Tổng, Tủa Sín Chải, Thu Lũm, Tả Lèng.

9. Tỉnh Lạng Sơn: Các xã: Ba Sơn, Cao Lộc, Công Sơn, Đoàn Kết, Kiên Mộc, Khuất Xá, Mẫu Sơn, Quốc Việt.

10. Tỉnh Lào Cai: Các xã: A Mú Sung, Bắc Hà, Bản Hồ, Bản Lầu, Bản Liền, Bản Xèo, Bảo Nhai, Cao Sơn, Cốc Lầu, Chế Tạo, Dền Sáng, Hạnh Phúc, Khao Mang, Lao Chải, Lùng Phình, Minh Lương, Mù Cang Chải, Mường Bo, Mường Khương, Mường Hum, Nậm Có, Nậm Xé, Nghĩa Đô, Ngũ Chỉ Sơn, Púng Luông, Pha Long, Phình Hồ, Si Ma Cai, Sín Chéng, Tả Củ Tỷ, Tả Phìn, Tả Van, Tà Xi Láng, Tú Lệ, Trạm Tấu, Y Tý.

11. Tỉnh Lâm Đồng: Đảo Hòn Hải thuộc đặc khu Phú Quý; Các xã: Cát Tiên 2, Cát Tiên 3, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 2, Đạ Tẻh 3, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3, Đam Rông 4, Đắk Mil, Đắk Sắk, Đắk Song, Đắk Wil, Đức An, Krông Nô, Lạc Dương, Nam Dong, Nam Đà, Nâm Nung, Nhân Cơ, Quảng Hòa, Quảng Khê, Quảng Phú, Quảng Sơn, Quảng Tân, Quảng Tín, Quảng Trực, Tà Năng, Tà Hine, Tà Đùng, Tuy Đức, Thuận An, Thuận Hạnh, Trường Xuân.

12. Tỉnh Nghệ An: Các xã: Bắc Lý, Chiêu Lưu, Huồi Tụ, Hữu Kiệm, Hữu Khuông, Keng Đu, Mường Lống, Mường Quàng, Mường Típ, Mường Xén, Mỹ Lý, Nậm Cắn, Nga My, Nhôn Mai, Quế Phong, Tam Quang, Tam Thái, Tiền Phong, Thông Thụ, Na Loi, Na Ngoi, Tri Lễ.

13. Tỉnh Quảng Ninh: Đặc khu Cô Tô; Xã: Hoành Mô; Trạm đèn biển Soi Đèn (Trạm đèn đảo Thanh niên cũ); Trạm đèn biển Hạ Mai thuộc đặc khu Vân Đồn

14. Tỉnh Quảng Ngãi: Đặc khu Lý Sơn; Các xã: Bờ Y, Dục Nông, Đăk Kôi, Đăk Long, Đăk Môn, Đăk Pék, Đăk Plô, Đăk Pxi, Đăk Rve, Đăk Sao, Đăk Tờ Kan, Ia Đal, Ia Tơi, Kon Đào, Kon Plông, Măng Bút, Măng Đen, Măng Ri, Mô Rai, Ngọc Linh, Ngọk Tụ, Rờ Kơi, Sa Bình, Sa Loong, Tu Mơ Rông, Xốp, Ya Ly.

15. Tỉnh Quảng Trị: Đặc khu Cồn Cỏ; Bản Ho Rum và bản Mít thuộc xã Kim Ngân; Các xã: Dân Hóa, Kim Điền, Kim Phú, Thượng Trạch, Trường Sơn, Tuyên Lâm, La Lay, Tà Rụt, Đakrông, A Dơi, Lìa, Khe Sanh, Hướng Lập, Hướng Phùng, Tân Lập, Tân Thành.

16. Tỉnh Sơn La: Các xã: Bắc Yên, Bó Sinh, Co Mạ, Chiềng Hoa, Chiềng Khoong, Chiềng Khương, Chiềng Lao, Chiềng Sại, Gia Phù, Kim Bon, Long Hẹ, Mường Bám, Mường Chiên, Mường La, Mường Lạn, Mường Lầm, Mường Lèo, Mường Sại, Nậm Ty, Ngọc Chiến, Pắc Ngà, Púng Bánh, Sốp Cộp, Suối Tọ, Tạ Khoa, Tà Xùa, Xím Vàng.

17. Tỉnh Tuyên Quang: Các xã: Bạch Đích, Bản Máy, Cán Tỷ, Du Già, Đồng Văn, Đường Thượng, Hoàng Su Phì, Hồ Thầu, Khâu Vai, Khuôn Lùng, Lao Chải, Lũng Cú, Lũng Phìn, Lùng Tám, Mậu Duệ, Mèo Vạc, Minh Tân, Nấm Dẩn, Nậm Dịch, Niêm Sơn, Ngọc Long, Nghĩa Thuận, Pà Vầy Sủ, Pờ Ly Ngài, Phố Bảng, Quản Bạ, Quảng Nguyên, Sà Phìn, Sơn Vĩ, Sủng Máng, Tát Ngà, Tân Tiến, Tùng Vài, Thàng Tín, Thanh Thủy, Thắng Mố, Thông Nguyên, Trung Thịnh, Xín Mần, Yên Minh.

18. Tỉnh Thái Nguyên: Các xã: Bằng Thành, Cao Minh, Côn Minh, Cường Lợi, Đồng Phúc, Ngân Sơn, Nghiên Loan, Thượng Quan, Văn Lang, Vĩnh Thông, Xuân Dương.

19. Tỉnh Thanh Hóa: Các xã: Mường Chanh, Mường Lát, Mường Lý, Nhi Sơn, Pù Nhi, Quang Chiểu, Tam Chung, Trung Lý.

20. Thành phố Đà Nẵng: Đặc khu Hoàng Sa; Các xã: Avương, Bến Giằng, Đắc Pring, Hùng Sơn, La Dêê, La Êê, Nam Giang, Nam Trà My, Phước Chánh, Phước Năng, Phước Thành, Tây Giang, Trà Đốc, Trà Giáp, Trà Leng, Trà Linh, Trà Tân, Trà Tập, Trà Vân; Trạm đèn biển Sơn Chà-Hòn Sơn Chà thuộc phường Hải Vân.

21. Thành phố Hải Phòng: Đặc khu Bạch Long Vỹ, Trạm đèn biển Long Châu thuộc đặc khu Cát Hải.

22. Thành phố Hồ Chí Minh: Đặc khu Côn Đảo.

23. Thành phố Huế: Các xã: A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4.

24. Các đơn vị sản xuất và hành chính khác: Nhà giàn DK1.

Có thể bạn quan tâm

Cảnh báo mạo danh cơ quan bảo hiểm xã hội yêu cầu cập nhật thông tin trên VssID.

Cảnh báo lừa đảo yêu cầu cài đặt thẻ bảo hiểm xã hội điện tử

Gần đây, Bảo hiểm xã hội Việt Nam ghi nhận tình trạng một số đối tượng mạo danh cán bộ bảo hiểm xã hội để tiếp cận người dân, lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn của bọn chúng ngày càng tinh vi, gây ảnh hưởng đến quyền lợi và an toàn tài chính của người tham gia, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Từng bước mở rộng phạm vi chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ phòng bệnh, dinh dưỡng, quản lý bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ. (Ảnh: ĐỖ THOA)

Mở rộng phạm vi chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ y tế, khám sức khỏe

Từ năm 2026, từng bước tăng tỷ lệ, mức thanh toán cho phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh và đối tượng ưu tiên phù hợp lộ trình tăng mức đóng, khả năng cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế. Trong đó, mở rộng phạm vi chi trả đối với dịch vụ phòng bệnh, dinh dưỡng, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe định kỳ.

Một góc quang cảnh hội nghị.

Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân

Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo hiểm xã hội thành phố đặt mục tiêu mỗi năm vận động, phát triển ít nhất 840 hội viên phụ nữ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; đồng thời, phấn đấu tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt từ 95% trở lên vào năm 2026 và hướng tới bao phủ toàn dân vào năm 2030.

Lễ ra quân tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế hộ gia đình, hưởng ứng Tháng vận động triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân năm 2026.

Cần Thơ lan tỏa chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế toàn dân

Thời gian qua, với sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố cùng sự phối hợp đồng bộ của các cấp, ngành và địa phương, Bảo hiểm xã hội Cần Thơ đã từng bước lan tỏa phát triển đối tượng, công tác phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Người dân được hỗ trợ thực hiện ủy quyền nhận lương hưu tại Nhà văn hóa Tổ dân phố Bạch Đằng, phường Hà Đông, Hà Nội. (Ảnh VSS)

Chủ động rà soát ủy quyền nhận lương hưu để bảo đảm quyền lợi người hưởng

Trước 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực. Bảo hiểm xã hội các địa phương chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền, hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn chi trả.

Khám tầm soát, lấy máu xét nghiệm tiểu đường cho người dân. (Ảnh: Bệnh viện Nội tiết Trung ương)

Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả cho hơn 3,3 triệu bệnh nhân đái tháo đường

Quỹ Bảo hiểm y tế hiện đang chi trả cho khoảng 7,98 triệu người tăng huyết áp, hơn 400 nghìn trường hợp can thiệp tim mạch, hơn 3,3 triệu người mắc đái tháo đường. Trong năm 2025, các bệnh không lây nhiễm ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi phí thanh toán lên tới 19,85 nghìn tỷ đồng. 

Cán bộ Trạm Y tế phường Đống Đa, Hà Nội khám sức khỏe cho người dân hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4 năm 2026. (Ảnh nhandan.vn)

Quý I/2026: Hơn 7.100 tỷ đồng chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Hà Nội

Trong 3 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn Hà Nội có hơn 3,2 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với chi phí hơn 7.100 tỷ đồng. Bảo hiểm xã hội Hà Nội đã tăng cường các giải pháp kiểm soát chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế thông qua phân tích dữ liệu, kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh các nội dung bất hợp lý.

Bảo hiểm xã hội Hà Nội phát động Tháng vận động, triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân năm 2025, tháng 5/2025. (Ảnh HSS)

Tháng vận động bảo hiểm xã hội toàn dân 2026 với chủ đề “Điểm tựa an sinh trọn đời”

Tháng cao điểm tuyên truyền, phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế năm 2026 có chủ đề “Bảo hiểm xã hội - điểm tựa an sinh trọn đời”. Lễ phát động và ra quân hưởng ứng Tháng vận động, triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân sẽ tổ chức đồng loạt vào đầu tháng 5/2026.

Các khách mời tham gia chương trình giao lưu trực tuyến. (Ảnh HSS)

Giải đáp trực tuyến về chế độ thai sản và ốm đau cho người lao động

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định một số điểm mới về chế độ thai sản và ốm đau. Sự chủ động của cơ quan Bảo hiểm xã hội trong hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, đồng thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh về hai chế độ này hết sức cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi tối đa và bảo đảm người lao động được thụ hưởng đầy đủ quyền lợi.