Nghiên cứu cơ bản là nền tảng của năng lực công nghệ quốc gia

Những quốc gia có nền khoa học, công nghệ phát triển đều là những quốc gia có nền kinh tế mạnh, năng suất lao động cao và khả năng cạnh tranh lớn trên trường quốc tế. Để đạt được trình độ đó, một trong những yếu tố quan trọng là sự phát triển của nghiên cứu cơ bản.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm giải thích cho các cán bộ trẻ của Việt Nam về thí nghiệm dùng máy gia tốc LINAC-200 tại Phòng thí nghiệm Các vấn đề Hạt nhân tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna (Liên bang Nga).
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm giải thích cho các cán bộ trẻ của Việt Nam về thí nghiệm dùng máy gia tốc LINAC-200 tại Phòng thí nghiệm Các vấn đề Hạt nhân tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna (Liên bang Nga).

Nghiên cứu cơ bản tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Nghiên cứu cơ bản là nền móng của toàn bộ hệ thống khoa học, công nghệ. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá những quy luật, bản chất và hiện tượng của tự nhiên mà chưa đặt mục tiêu ứng dụng trực tiếp ngay lập tức.

Đây là loại hình nghiên cứu mang tính nền tảng, tạo ra tri thức mới cho nhân loại. Không có nghiên cứu cơ bản thì sẽ không có các phát minh lớn và cũng không thể hình thành những công nghệ tiên tiến. Lịch sử khoa học đã chứng minh rằng hầu hết các công nghệ hiện đại ngày nay đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản. Những thành tựu như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, vật liệu mới, công nghệ bán dẫn hay năng lượng hạt nhân đều xuất phát từ các nghiên cứu cơ bản kéo dài nhiều thập kỷ trước đó. Từ những kết quả của nghiên cứu cơ bản, con người mới có thể phát triển các công nghệ mới và ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống.

Với các nước phát triển, nghiên cứu cơ bản thường hướng tới các phát minh mang tính đột phá nhằm duy trì vị thế dẫn đầu về khoa học, công nghệ. Các quốc gia này có đội ngũ chuyên gia đông đảo, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại và nguồn tài chính mạnh để đầu tư lâu dài cho nghiên cứu cơ bản.

Đối với Việt Nam, theo chúng tôi, mục tiêu của nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn hiện nay nên khác so với các nước phát triển vì Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển với tiềm lực khoa học, công nghệ còn hạn chế. Mục tiêu hàng đầu của nghiên cứu cơ bản của Việt Nam không phải hướng tới các phát minh mang tính đột phá, mà là để đào tạo đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao.

Đây chính là lực lượng nòng cốt để tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến của thế giới vào quá trình phát triển đất nước. Một quốc gia không có đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ mạnh sẽ không thể tiếp thu hiệu quả các thành tựu tiên tiến của thế giới.

Việc nhập khẩu máy móc hay công nghệ từ nước ngoài chỉ là bước ban đầu; điều quan trọng hơn là phải có đội ngũ chuyên gia đủ trình độ để vận hành, cải tiến và phát triển các công nghệ đó phù hợp với điều kiện trong nước. Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam sẽ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài và khó có thể phát triển bền vững.

Hiện nay, Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Số lượng các chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực còn hạn chế, trong khi nhu cầu phát triển kinh tế và công nghiệp hóa đất nước ngày càng lớn.

Nhiều lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học hay trí tuệ nhân tạo đều cần lực lượng nhân sự có trình độ chuyên môn sâu và khả năng nghiên cứu độc lập. Nghiên cứu cơ bản chính là môi trường tốt nhất để tạo ra nguồn nhân lực này. Thông qua hoạt động nghiên cứu cơ bản, các nhà khoa học trẻ được rèn luyện tư duy sáng tạo, kỹ năng phân tích và phương pháp giải quyết vấn đề. Đây là những năng lực cốt lõi giúp họ có thể tiếp cận và làm chủ các công nghệ hiện đại.

Hiện nay, Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới mức tăng trưởng GDP hai con số trong tương lai. Để đạt được mục tiêu này, khoa học, công nghệ phải trở thành động lực chính của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể thực hiện được khi đất nước có đủ đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao được hình thành qua các chương trình nghiên cứu cơ bản.

Hợp tác quốc tế để rút ngắn khoảng cách nghiên cứu cơ bản

Một khó khăn lớn để triển khai nghiên cứu cơ bản tại Việt Nam là sự thiếu hụt các phòng thí nghiệm hiện đại và đồng bộ. Nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ đòi hỏi các hệ thống thiết bị thí nghiệm rất đắt tiền, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phức tạp và nguồn kinh phí lớn để vận hành.

bd272868-1526-47ea-9290-b028f47c0807.jpg
Các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế tại Phòng thí nghiệm Các vấn đề Hạt nhân tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna ( Liên bang Nga).

Ví dụ, các nghiên cứu về vật lý hạt nhân cần những thiết bị hiện đại như máy gia tốc, lò phản ứng hạt nhân, hệ phổ kế chính xác cao và các hệ điện tử tiên tiến. Mặc dù trong những năm gần đây Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho khoa học, công nghệ, nhưng nhìn chung hệ thống phòng thí nghiệm của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu hiện đại. Nhiều thiết bị còn thiếu đồng bộ, khả năng cập nhật công nghệ mới còn chậm và kinh phí vận hành còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu cơ bản và khả năng đào tạo nhân lực trình độ cao.

Trong bối cảnh này, hợp tác quốc tế có thể là giải pháp hiệu quả và phù hợp nhất để phát triển nghiên cứu cơ bản của Việt Nam. Vấn đề này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu tại cuộc làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/5: “ Đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc để nâng chuẩn nghiên cứu, đào tạo đội ngũ kế cận và rút ngắn khoảng cách tri thức”.

Thông qua hợp tác với các nước có nền khoa học, công nghệ tiên tiến, các nhà khoa học Việt Nam có cơ hội tiếp cận với các phòng thí nghiệm hiện đại, thiết bị tiên tiến và môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp.

Nhiều quốc gia phát triển đã xây dựng các trung tâm nghiên cứu quy mô lớn phục vụ cộng đồng khoa học quốc tế. Các nhà khoa học từ nhiều nước có thể tham gia nghiên cứu, sử dụng thiết bị và hợp tác công bố kết quả khoa học. Đây là cơ hội để Việt Nam đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao mà không cần phải đầu tư ngay lập tức những cơ sở vật chất quá tốn kém.

Thông qua hợp tác quốc tế, các nhà khoa học Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu, tiếp cận phương pháp khoa học hiện đại và nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng thời, việc tham gia các dự án quốc tế còn giúp xây dựng mạng lưới hợp tác khoa học rộng lớn, tăng khả năng công bố quốc tế và nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế.

Một ví dụ điển hình là hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vật lý hạt nhân và năng lượng nguyên tử, giữa Chính phủ Việt Nam và Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân (LHNCHN) Đubna.

Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna là một trung tâm khoa học quốc tế được thành lập bởi 18 nước thành viên vào năm 1956 tại thành phố Đubna, Liên bang Nga. Việt Nam là nước tham gia thành lập và là thành viên chính thức của tổ chức khoa học này. Mục tiêu của Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna là các nước thành viên cùng đóng góp kinh phí để xây dựng các phòng thí nghiệm chung hiện đại nhất để thực hiện nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực hạt nhân nguyên tử. Viện sở hữu nhiều thiết bị nghiên cứu hiện đại trong các lĩnh vực vật lý hạt nhân, vật lý năng lượng cao, khoa học vật liệu, công nghệ gia tốc, công nghệ sinh học, ...

Vì là thành viên chính thức của Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna, các cán bộ khoa học Việt Nam được quyền sử dụng các thiết bị nghiên cứu hiện đại như lò phản ứng hạt nhân xung IBR-2, các máy gia tốc hiện đại và các phổ kế tiên tiến tại Viện để tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu cấu trúc hạt nhân, phản ứng hạt nhân, vật liệu mới và các ứng dụng liên ngành mà Việt Nam cần, qua đó từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ và phát triển các hướng nghiên cứu chiến lược phục vụ khoa học và công nghệ quốc gia.

Việc khai thác hiệu quả hợp tác với Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna sẽ tạo điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu cơ bản của Việt Nam, đặc biệt trong đào tạo nguồn nhân lực khoa học trình độ cao.

Cho đến nay, nhiều cán bộ khoa học của Việt Nam đã trưởng thành từ Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Đubna và trở thành các nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam như: Giáo sư Nguyễn Đình Tứ; Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu; Giáo sư, Viện sĩ Đặng Vũ Minh; Giáo sư Phạm Duy Hiển và rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng khác của Việt Nam.

Trong tương lai, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường gửi cán bộ trẻ tới các trung tâm khoa học lớn trên thế giới, đồng thời, cần xây dựng cơ chế thuận lợi để thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các chương trình nghiên cứu và đào tạo trong nước.

Nếu có chiến lược đúng đắn và đầu tư phù hợp cho nghiên cứu cơ bản, Việt Nam sẽ từng bước xây dựng được đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ mạnh, tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế bền vững trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.

Hình ảnh về tác động mà tên lửa của SpaceX gây ra trên bề mặt Mặt Trăng. (Ảnh: NASA)

Nguy cơ "tắc nghẽn" quỹ đạo Trái đất do rác vũ trụ

Các chuyên gia vũ trụ cảnh báo ngày càng nhiều rủi ro từ lượng rác thải không gian đang tăng lên, làm dấy lên lo ngại về tình trạng “tắc nghẽn” quỹ đạo và thách thức trong việc thu gom xử lý chúng. Lời cảnh báo được đưa ra sau sự cố một tên lửa của SpaceX va chạm với Mặt trăng ngày 5/8.

Công an thành phố Hà Nội cảnh báo một số chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm

Công an thành phố Hà Nội cảnh báo một số chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm

Công an thành phố Hà Nội vừa phát đi cảnh báo về 2 chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm đang bị các nhóm tin tặc khai thác, tấn công trực tiếp vào hệ thống thông tin của các cơ quan, đơn vị và thiết bị di động của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên địa bàn, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh mạng, an ninh thông tin.