Hậu trường MV “Lá ngọc cành vàng” của ca nương Kiều Anh. (Ảnh: Antiantiart)
Hậu trường MV “Lá ngọc cành vàng” của ca nương Kiều Anh. (Ảnh: Antiantiart)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Đòn bẩy phát triển du lịch từ các ngành công nghiệp văn hóa

Từ bộ phim Hộ linh tráng sĩ đến MV "nổi đình nổi đám" gần đây của Sơn Tùng M-TP là Come My Way, hay ca nương Kiều Anh với MV Lá ngọc cành vàng, có thể thấy địa điểm được lựa chọn cho một MV, một bộ phim hay một lễ hội không đơn thuần là câu chuyện của bối cảnh. Đằng sau mỗi lựa chọn không gian là cách một sản phẩm văn hóa được kết nối với một vùng đất, một cộng đồng và những bản sắc riêng biệt.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tiếp tục mở rộng cách tiếp cận này khi đặt du lịch trong mối liên hệ với văn hóa, công nghiệp văn hóa, giải trí, kinh tế đêm và kinh tế số. Bên cạnh di tích, danh thắng hay lễ hội truyền thống, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế sáng tạo và kinh tế di sản được nhìn nhận như những nguồn lực có khả năng tạo thêm giá trị cho điểm đến.

Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy hướng đi này đang từng bước được triển khai. Ninh Bình, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và nhiều địa phương khác đang tìm cách kết nối di sản, nghệ thuật, sự kiện, không gian sáng tạo và các sản phẩm văn hóa với hoạt động du lịch. Công nghiệp văn hóa vì thế không chỉ tạo thêm sản phẩm phục vụ du khách, mà còn mở ra cách làm mới hình ảnh và giá trị của điểm đến.

Vấn đề đặt ra là khi công nghiệp văn hóa được kỳ vọng trở thành một động lực mới của du lịch, cần thay đổi gì từ nghiên cứu, chính sách đến thực hành sáng tạo để văn hóa không chỉ được xem như nguồn nguyên liệu để khai thác?

Hướng đi từ công nghiệp văn hóa tới du lịch

Theo Tiến sĩ Phạm Minh Quân, Giảng viên Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, mối quan hệ giữa công nghiệp văn hóa và du lịch cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái giá trị, thay vì coi công nghiệp văn hóa đơn thuần là bên cung cấp sản phẩm cho du lịch.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt du lịch trong mối liên hệ với văn hóa, công nghiệp sáng tạo, giải trí, kinh tế đêm, thương mại và kinh tế số. Trong chuỗi này, một tài nguyên văn hóa như di sản, lễ hội, làng nghề hay không gian đô thị có thể trở thành chất liệu cho điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, biểu diễn, thời trang, ẩm thực và nội dung số. Ngược lại, các sản phẩm sáng tạo có thể tạo thêm lý do để du khách đến, ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn.

“Giá trị của điểm đến ngày càng được tạo nên từ khả năng kể câu chuyện, kiến tạo trải nghiệm và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành những sản phẩm sáng tạo có sức cạnh tranh”, Tiến sĩ Phạm Minh Quân nhận định.

Theo ông, điều quan trọng là phải nhìn thấy sự vận động hai chiều giữa văn hóa và du lịch. Văn hóa cung cấp chất liệu, trong khi hoạt động sáng tạo và du lịch có thể tạo thêm giá trị, thị trường và sức sống cho những chất liệu đó.

Tiến sĩ Phạm Minh Quân, Giảng viên Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Tiến sĩ Phạm Minh Quân, Giảng viên Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Cách tiếp cận này cũng làm thay đổi vị trí của cộng đồng trong chuỗi giá trị du lịch. Thay vì chỉ cung cấp dịch vụ hoặc thụ hưởng lợi ích, người dân có thể tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm và kể câu chuyện văn hóa của địa phương. Nghị quyết số 26-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của người dân, cộng đồng trong phát triển du lịch, đồng thời đề cập du lịch cộng đồng, làng nghề và việc phát triển nguồn nhân lực tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo.

“Mấu chốt là phải chuyển từ tư duy khai thác văn hóa của cộng đồng sang đồng sáng tạo với cộng đồng. Người dân cần có tiếng nói trong việc xác định câu chuyện nào được kể, giá trị nào được sử dụng, cách thức thể hiện ra sao và lợi ích được phân bổ thế nào”, Tiến sĩ Quân nói.

Khi đó, du lịch không chỉ tạo ra sinh kế mà còn có thể góp phần duy trì việc thực hành, truyền dạy và tiếp nối văn hóa. Giá trị văn hóa không bị đóng khung trong một màn trình diễn phục vụ du khách, mà tiếp tục tồn tại trong đời sống của chính cộng đồng.

Từ chủ thể thụ hưởng đến chủ thể sáng tạo

Kết nối du lịch với điện ảnh, âm nhạc, thời trang, giải trí hay công nghệ số mở ra nhiều khả năng sáng tạo, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về cách chuyển hóa chất liệu văn hóa thành sản phẩm mới. Theo Tiến sĩ Phạm Minh Quân, cần xác định rõ giá trị văn hóa nào đang được sử dụng, ý nghĩa ban đầu của nó ra sao và yếu tố nào có thể thay đổi trong một hình thức mới.

“Đặc biệt với di sản, cần tránh tình trạng chỉ giữ lại những hình ảnh dễ nhận diện nhất rồi tách chúng khỏi lịch sử, cộng đồng và hệ thống thực hành đã tạo nên chúng. Công nghiệp văn hóa cần có quyền sáng tạo, nhưng sáng tạo càng mạnh thì càng cần một nền tảng nghiên cứu văn hóa đủ sâu”, ông nhấn mạnh.

holinh2.jpg
Bối cảnh phim Hộ linh tráng sĩ được ghi hình tại Ninh Bình. (Ảnh: Đoàn làm phim cung cấp)

Điều này đặc biệt quan trọng khi các địa phương ngày càng sử dụng văn hóa để xây dựng sản phẩm và thương hiệu du lịch. Nếu chỉ lựa chọn những biểu tượng dễ nhận diện để phục vụ quảng bá, sản phẩm có thể nhanh chóng mất đi nét riêng. Ngược lại, việc nghiên cứu sâu vào lịch sử, đời sống và thực hành văn hóa địa phương có thể tạo ra những chất liệu phong phú hơn cho sáng tạo.

Một vấn đề khác là cách tổ chức không gian du lịch. Nghị quyết số 26-NQ/TW đề cập các tổ hợp du lịch, văn hóa, thể thao, giải trí và kinh tế đêm. Theo Tiến sĩ Phạm Minh Quân, đây không nên chỉ được hiểu là việc xây thêm các cơ sở vui chơi, mua sắm hay biểu diễn, mà cần gắn với đặc trưng không gian và đời sống văn hóa địa phương.

“Một không gian văn hóa có giá trị trước hết phải có bản sắc, ký ức, hoạt động và cộng đồng. Nếu chỉ tập trung vào khả năng tiêu dùng của du khách, không gian đó rất dễ trở thành một ‘sân khấu hóa’ được thiết kế giống nhau ở nhiều nơi”, ông Quân phân tích.

Để di sản luôn được “sống”

Nếu Tiến sĩ Phạm Minh Quân tiếp cận câu chuyện từ nghiên cứu, thể chế và cộng đồng, đạo diễn Phương Vũ, người đứng đầu tập thể sáng tạo Antiantiart, lại bắt đầu từ cách người trẻ nhìn và kể lại văn hóa.

Với anh, di sản không nhất thiết chỉ được tiếp cận thông qua những cách diễn giải quen thuộc. Một thế hệ mới có thể nhìn vào chất liệu văn hóa bằng ngôn ngữ hình ảnh của chính mình, từ đó đưa những giá trị ấy đến với cả khán giả trong nước và quốc tế.

2aoboqyb8vpq9v6yyf5lu83sfbkxhx0d0bowj4r2.jpg
Đạo diễn Phương Vũ (tóc xanh) và ê-kíp trong quá trình thực hiện MV “Mục Hạ Vô Nhân” - MV có sự tham gia của SOOBIN, Binz và Nghệ sĩ Nhân dân Huỳnh Tú. (Ảnh: Antiantiart)

Trong Mục Hạ Vô Nhân, những chất liệu như xẩm, hình ảnh người xem bói, không gian nông thôn, tín ngưỡng dân gian hay hình tượng Đông Sơn được đặt trong một ngôn ngữ thị giác đương đại. Theo Phương Vũ, điều quan trọng không phải tạo cảm giác xa lạ cho người xem, mà là để một người trẻ được tiếp cận những chất liệu mình quan tâm bằng góc nhìn và ngôn ngữ sáng tạo của thế hệ mình.

Cách nhìn đó cũng mở rộng khái niệm về văn hóa Việt Nam. Văn hóa không chỉ nằm ở những di sản lớn hay các biểu tượng thường xuyên được sử dụng để đại diện cho quốc gia, mà còn hiện diện trong đời sống đô thị, các cộng đồng sáng tạo, lối sống và những tiểu văn hóa đang hình thành.

Trong dự án “Cảm hứng tự hào từ những thái cực văn hóa Hà Nội” cho Biti’s Hunter, Phương Vũ tiếp cận Hà Nội từ những lát cắt của đời sống hiện đại, nơi văn hóa đường phố, các cộng đồng sáng tạo trẻ và những thực hành văn hóa mới cùng tồn tại trong không gian đô thị. Qua đó, diện mạo văn hóa của thành phố được mở rộng từ những di sản và biểu tượng lịch sử đến những giá trị đang được hình thành trong đời sống đương đại.

Theo Phương Vũ, những cộng đồng sáng tạo cũng có thể trở thành không gian tập hợp các cá nhân, lĩnh vực và nguồn lực sáng tạo. Antiantiart được vận hành theo mô hình này, quy tụ đạo diễn, biên đạo, thiết kế đồ họa và ê-kíp sản xuất, cùng trao đổi và phát triển ý tưởng, qua đó mở rộng khả năng làm mới những chất liệu văn hóa Việt Nam trong các sản phẩm đương đại.

“Tôi cho rằng, để tạo ra một làn sóng văn hóa thực sự có sức lan tỏa, cần có nhiều tập thể sáng tạo cùng vận hành theo cách đó, chứ không thể chỉ trông chờ vào một sản phẩm đơn lẻ, dù sản phẩm ấy có đạt được lượt xem cao đến đâu”, đạo diễn trẻ chia sẻ.

Điều kiện để công nghiệp văn hóa trở thành đòn bẩy bền vững

Để công nghiệp văn hóa trở thành động lực lâu dài cho du lịch thay vì chỉ tạo ra những sản phẩm theo mùa, Tiến sĩ Phạm Minh Quân cho rằng, cần đồng thời chú trọng ba yếu tố: nghiên cứu, thể chế và cộng đồng.

Nghiên cứu giúp nhận diện nguồn lực và đặc trưng văn hóa; chính sách tạo điều kiện cho thử nghiệm và đầu tư dài hạn; còn cộng đồng cần được tham gia quá trình xây dựng sản phẩm và phân phối lợi ích. Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng đề cập hợp tác công tư, các quỹ hỗ trợ, tín dụng, hỗ trợ khởi nghiệp, chuyển đổi số và cơ chế thí điểm cho những mô hình du lịch mới.

“Nếu thiếu một trong ba yếu tố này, sản phẩm văn hóa dễ trở thành những sự kiện ngắn hạn. Ngược lại, khi nghiên cứu tạo ra tri thức, chính sách tạo ra điều kiện và cộng đồng tạo ra sức sống, công nghiệp văn hóa mới có thể trở thành năng lực nội sinh của điểm đến, thay vì chỉ là công cụ quảng bá du lịch”, ông nhận định.

2aoboqyb6wzd6scjlgsosqjzbzr2p3dtvsrlgkus.jpg
Hậu trường MV Come My Way của Sơn Tùng M-TP- MV có lồng ghép nhiều yếu tố văn hóa Việt Nam.

Từ hai góc nhìn khác nhau, có thể thấy du lịch và công nghiệp văn hóa không chỉ là hai lĩnh vực được ghép lại để tạo thêm sản phẩm. Điểm quan trọng nằm ở cách các địa phương nhận diện nguồn lực văn hóa của mình, tạo điều kiện cho cộng đồng và lực lượng sáng tạo tham gia, đồng thời xây dựng những cách kể phù hợp với đời sống đương đại.

Trong tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, công nghiệp văn hóa vì thế có thể trở thành một phương thức để làm mới giá trị điểm đến. Khi những chất liệu văn hóa được nghiên cứu, sáng tạo và kết nối với thị trường du lịch một cách phù hợp, các địa phương không chỉ có thêm sản phẩm, mà còn có thêm những cách kể về chính mình, đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Vẻ đẹp của Đại Nội Huế, một phần trong Quần thể di tích Cố đô Huế, mang đậm dấu ấn văn hóa, lịch sử, kiến trúc của triều đại nhà Nguyễn. Nơi đây được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1993. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Sức hút của du lịch di sản: Đi để khám phá câu chuyện đằng sau mỗi điểm đến

Ngày nay, cách du khách lên kế hoạch cho các chuyến đi khám phá văn hóa tại Việt Nam đã có sự thay đổi không nhỏ. Du khách không chỉ tìm kiếm những điểm đến di sản, mà còn quan tâm tới cách thức để trải nghiệm thông qua các tour có hướng dẫn, chương trình biểu diễn văn hóa, cảnh quan địa phương và các di tích lịch sử.

Khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội vào dịp Tết. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Du lịch Việt nỗ lực giữ vững quy mô, tốc độ tăng trưởng top đầu Đông Nam Á

Thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, 160 triệu lượt khách nội địa vào năm 2030. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP cho đất nước. 

Công viên đá Núi Chúa kỳ thú dưới nắng chiều.

[Ảnh] Công viên đá Núi Chúa: "Bảo tàng địa mạo" triệu năm bên bờ biển Khánh Hòa

Nằm tĩnh lặng trong ranh giới Vườn Quốc gia Núi Chúa, Công viên đá Núi Chúa là một trong những điểm đến hoang sơ và kỳ vĩ bậc nhất Ninh Thuận (cũ). Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất, hàng vạn khối đá đã bị phong hóa, bào mòn thành những hình thù độc đáo, xếp chồng lên nhau vươn dài ra sát mép sóng.

Khách hàng trải nghiệm thanh toán QR xuyên biên giới. (Ảnh: HOÀNG TRANG)

Kết nối thanh toán, nâng trải nghiệm du lịch

Sự thay đổi trong cách lựa chọn điểm đến và sử dụng dịch vụ của du khách Trung Quốc đang đặt ra yêu cầu mới đối với du lịch Việt Nam. Bên cạnh sức hấp dẫn của cảnh quan, ẩm thực và văn hóa bản địa, khả năng thanh toán thuận tiện trở thành một mắt xích góp phần hoàn thiện trải nghiệm, mở rộng cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk

Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo được những kết quả bước đầu, hình thành một số mô hình, cải thiện điều kiện phục vụ khách du lịch, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.

Bức tranh thiếu nữ đánh đàn, được làm bằng những cây lúa.

[Ảnh] Những cánh đồng "bội thu sớm" ở Trung Quốc

Những bãi đỗ xe gần như chật kín, dòng người đông đúc đổ về trải nghiệm văn hóa và cảnh sắc thôn quê, hài lòng với những bức ảnh check-in trên cánh đồng đa sắc màu rực rỡ, tuy chưa vào thời điểm thu hoạch nhưng đã cho thấy sự tốt tươi, được mùa. Đây là một trong nhiều lát cắt về công cuộc chấn hưng nông thôn ở Trung Quốc.

Hình ảnh nghệ nhân điêu khắc tác phẩm từ rễ tre trên phố cổ Hội An, thu hút nhiều du khách đến chiêm ngưỡng, tìm hiểu. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Khơi thông nguồn lực, đưa du lịch Việt Nam bứt tốc

Để khơi thông mọi nguồn lực phát triển, du lịch Việt cần đổi mới tư duy, cách tiếp cận và cách làm nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị du lịch từ số lượng sang chất lượng. Qua đó, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Bãi đá cuội 7 màu ở biển Cổ Thạch, Lâm Đồng được xem kiệt tác địa chất hiếm có, thu hút khách du lịch khám phá. (Ảnh: TÙNG LÂM)

Mở hướng phát triển mới cho du lịch Lâm Đồng

Bằng việc tái cấu trúc không gian thành mô hình liên kết mới và khai thác vào chiều sâu di sản bản địa, ngành du lịch Lâm Đồng đang hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững, từng bước định vị thương hiệu điểm đến chất lượng cao với chuỗi trải nghiệm riêng biệt, thú vị cho du khách.

Trận bán kết lượt đi giữa hai đội Thẩm Dương và Trường Xuân, diễn ra ngày 11/9, tại sân vận động Thiết Tây, thành phố Thẩm Dương. (Ảnh: LẬP ĐÀ)

Một giải bóng đá bình dân hâm nóng ngành du lịch Trung Quốc

Mùa hè năm nay, có một giải đấu đã trở thành hiện tượng nóng bỏng trong giới thể thao Trung Quốc, không chỉ bởi sự quan tâm của những người yêu bóng đá và công chúng, mà còn bởi khả năng kích cầu tiêu dùng, hâm nóng ngành du lịch các tỉnh Đông Bắc, vốn chỉ nổi tiếng bởi các loại hình du lịch băng tuyết vào mùa đông.

[Video] Khám phá Đồi Cổ Thạch: Bí ẩn ngủ yên giữa lòng "xứ Nẫu"

[Video] Khám phá Đồi Cổ Thạch: Bí ẩn ngủ yên giữa lòng "xứ Nẫu"

Nằm giữa cụm danh thắng nhộn nhịp của vùng phía Bắc Phú Yên (cũ), Đồi Cổ Thạch là một "toạ độ" mang vẻ đẹp và sự bí ẩn với hệ thống đường và tường được cấu thành từ hàng chục ngàn viên đá đều tăm tắp. Du khách đến nơi đây bị cuốn hút bởi sự thanh bình, kỳ bí và cảm giác như đang bước vào một "bảo tàng" thiên nhiên.

Phố cổ Hội An luôn là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. (Ảnh: PHAN HẢI TÙNG LÂM)

Việt Nam nằm trong top 3 điểm đến châu Á có tỷ lệ du khách quay lại cao nhất

Từ nhịp sống sôi động của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến những bãi biển đẹp như tranh vẽ tại Đà Nẵng hay cảnh quan núi rừng hùng vĩ của Sa Pa, mỗi điểm đến đều cho du khách lý do mới để trở lại Việt Nam. Và năm nay, đất nước hình chữ S tiếp tục nằm trong top 3 điểm đến châu Á có tỷ lệ du khách quay lại cao nhất.

Điểm dừng chân đầu tiên trải nghiệm, như “món khai vị” trước khi du khách ghé thăm Cồn Sơn là bè cá của ông Lý Văn Bon (Bảy Bon), để chiêm ngưỡng vẻ đẹp và sự đa dạng của các loài thủy sản trên sông Mê Kông.

[Ảnh] Cồn Sơn - nơi mộc mạc níu chân du khách

Cồn Sơn nằm giữa dòng sông Hậu thuộc phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Chỉ cần 10 phút qua thuyền máy từ bờ Bình Thủy, bạn sẽ có một ngày tham gia tour du lịch sinh thái cộng đồng, thưởng thức những món đặc sản nhà vườn khó quên.

Khách quốc tế thích thú khi được tham gia trò chơi dân gian Việt Nam. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Định vị thương hiệu du lịch Việt từ những trải nghiệm giàu bản sắc

Quá trình định vị, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam gắn với phát triển xanh và bền vững đòi hỏi một chiến lược quản trị dài hạn, đồng bộ. Xuyên suốt quá trình ấy, mỗi cam kết về chất lượng dịch vụ lữ hành được đong đếm bằng chính trải nghiệm thực tế và sự hài lòng của du khách thập phương.

Du khách tham quan Tràng An, Ninh Bình. (Ảnh: HOÀNG TRƯỜNG)

Tạo không gian tăng trưởng mới cho du lịch Việt

Trong bối cảnh du lịch toàn cầu có nhiều biến động, du lịch Việt Nam buộc phải ứng phó linh hoạt và tiếp cận với chiến lược toàn diện, bền vững hơn, nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị từ số lượng sang chất lượng.