Theo cách tiếp cận của dự thảo Đề án, di sản được nhìn nhận như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên và vốn xã hội, có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm trong dài hạn. Vì vậy, việc lượng hóa tổng giá trị kinh tế của di sản không nhằm quy đổi toàn bộ giá trị văn hóa hay giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thành tiền, mà nhằm nhận diện và đo lường những lợi ích kinh tế và phúc lợi do hệ thống tài sản di sản tạo ra cho xã hội.
Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value/TEV) của mỗi di sản thế giới được lượng hóa gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng bao gồm ba nhánh: Giá trị sử dụng trực tiếp (từ tham quan, du lịch, dịch vụ văn hóa và sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, sự kiện, các hoạt động định cư và sinh kế cộng đồng); giá trị sử dụng gián tiếp (thông qua cảnh quan, môi trường, thương hiệu lãnh thổ, sức hấp dẫn đầu tư, giá trị bất động sản, chất lượng không gian sống và các dịch vụ hệ sinh thái) và giá trị lựa chọn cho tương lai. Các giá trị phi sử dụng là giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau, giá trị biểu tượng, bản sắc và giá trị tinh thần của cộng đồng.
Cách tiếp cận như trên giúp phân biệt rõ giữa tổng giá trị kinh tế của di sản và doanh thu từ du lịch, dịch vụ văn hóa hoặc chi tiêu của khách tham quan. Các chỉ số thị trường trực tiếp chỉ phản ánh một bộ phận của giá trị sử dụng, trong khi di sản còn tạo ra nhiều lợi ích phi thị trường và tác động lan tỏa đối với cộng đồng, môi trường, giáo dục, nghiên cứu, thương hiệu lãnh thổ và phát triển dài hạn. Đây cũng là cách tiếp cận được áp dụng trong việc lượng hóa giá trị quần thể danh thắng Tràng An, do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2024-2025 với kết quả: Tổng giá trị kinh tế và thương hiệu của Tràng An trong giai đoạn đánh giá 2024-2025 được xác định ở mức 213 tỷ USD.
Điều đáng nói, Tràng An hiện là quần thể di sản hỗn hợp (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) duy nhất tại Việt Nam, đòi hỏi khung đánh giá phù hợp đặc thù, bao quát được giá trị sử dụng và phi sử dụng của tất cả các yếu tố tạo nên giá trị tổng thể di tích. Theo đó, nhóm nghiên cứu đã phân chia quần thể này thành bốn khu vực chính để lượng hóa giá trị và từ đó, xác định yếu tố cốt lõi tạo nên tổng thể giá trị, bao gồm: Di sản tổng thể theo giá trị kinh tế; hệ sinh thái tự nhiên; di sản văn hóa và di sản định cư truyền thống.
Quan niệm và phương thức lượng hóa giá trị kinh tế chú trọng vào yếu tố đặc thù của quần thể danh thắng Tràng An có thể là tham chiếu hữu ích cho việc lượng hóa giá trị kinh tế từng di sản, trong số tám di sản/quần thể di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới ở nước ta thuộc phạm vi nghiên cứu của Đề án: Hoàng thành Thăng Long; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Thành nhà Hồ; Phong Nha - Kẻ Bàng; Cố đô Huế; Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Trên cơ sở đó, Việt Nam sẽ có điều kiện sớm tiến tới xây dựng một khung phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế di sản thống nhất ở cấp quốc gia, nhằm chuẩn hóa chỉ tiêu, dữ liệu, quy trình khảo sát và cơ chế sử dụng kết quả lượng hóa giá trị này trong quản lý nhà nước đối với di sản và phát triển cộng đồng.
Việc lượng hóa tổng giá trị kinh tế của di sản lịch sử và văn hóa diễn ra ngày càng phổ biến trên thế giới, kể từ những năm 1990, thế kỷ trước. Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức giá trị của di sản ở nhiều khía cạnh để bảo tồn, khai thác và phát huy một cách tốt nhất, góp phần vào hoạch định chiến lược phát triển của một cộng đồng, địa phương và rộng hơn là của một quốc gia.
Việc xây dựng Đề án là một trong những hoạt động quan trọng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.