Du lịch Việt nỗ lực giữ vững quy mô, tốc độ tăng trưởng top đầu Đông Nam Á

Thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, 160 triệu lượt khách nội địa vào năm 2030. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP cho đất nước. 

Khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội vào dịp Tết. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)
Khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội vào dịp Tết. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Hành động để ngành du lịch tăng trưởng nhanh, bền vững

Theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong vừa ký Quyết định số 2331/QĐ-BVHTTDL về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trước đó, Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 và được điều chỉnh, cập nhật theo Quyết định số 374/QĐ-BVHTTDL ngày 28/2/2026 của Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và những thay đổi về thể chế, chính sách mới nhất.

Mục tiêu tổng quát là tổ chức triển khai hiệu quả Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (đã được điều chỉnh) sao cho đến năm 2030, du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng, phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, tuần hoàn.

Cụ thể, đến năm 2030, Việt Nam đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trưởng từ 16-19%/năm. Về nhóm khách nội địa, mục tiêu đón 160 triệu lượt khách với tốc độ tăng trưởng từ 3%/năm. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP. Ngoài ra, nhu cầu buồng lưu trú khoảng 1,5 triệu buồng và có 20 Khu du lịch quốc gia được công nhận.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam nhận định, Chương trình hành động vừa được ban hành bám sát các mục tiêu, định hướng, giải pháp đã được phê duyệt trong Quy hoạch và các văn bản điều chỉnh.

Theo đó, việc phát triển du lịch gắn với bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới, cửa khẩu, biển đảo; không làm ảnh hưởng đến công trình biên giới, công trình quốc phòng, khu vực cấm, khu vực quân sự, hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và hoạt động kiểm soát xuất, nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

Chương trình hành động cũng phân công rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị; xác định sản phẩm đầu ra cụ thể và thời hạn hoàn thành, sao cho bảo đảm tính đồng bộ, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch huy động hiệu quả các nguồn lực, trong đó khu vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển; thực hiện đánh giá định kỳ, điều chỉnh Chương trình hành động phù hợp với thực tiễn.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp chặt chẽ với Bộ trong quá trình thực hiện Quy hoạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các chiến lược, quy hoạch có liên quan.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ trưởng về triển khai thực hiện Quy hoạch. Đơn vị sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan của các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, đánh giá các yếu tố về bảo đảm quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án, nhiệm vụ cụ thể theo quy định của pháp luật về kết hợp quốc phòng với kinh tế-xã hội và kinh tế-xã hội với quốc phòng.

Cục Du lịch quốc gia Việt Nam cho biết, quá trình triển khai các nhiệm vụ, dự án, quy hoạch liên quan đến du lịch bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành và các quy hoạch khác có liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Tình hình thực hiện Quy hoạch tại địa phương cần được báo cáo định kỳ về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 15/12 hằng năm.

Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để phát triển thương hiệu du lịch Việt

Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Chương trình hành động đã xác định 7 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, bao gồm: hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về du lịch; tổ chức không gian du lịch và phát triển đầu tư; phát triển sản phẩm du lịch; phát triển thị trường du lịch; chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ; phát triển nguồn nhân lực du lịch; bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững.

Trước hết, cần hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về du lịch. Việc rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành cần được tập trung thực hiện. Bên cạnh đó, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về du lịch. Đồng thời, xây dựng quy định về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực du lịch phù hợp với tiêu chuẩn nghề ASEAN.

ndo_br_thiet-ke-chua-co-ten-28.png
Du khách khám phá nét cổ kính của phố cổ Hội An. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Chương trình hành động cũng xác định rõ nhiệm vụ tổ chức không gian du lịch và phát triển đầu tư. Toàn ngành cần tổ chức lập quy hoạch chung làm cơ sở để thu hút đầu tư phát triển hạ tầng du lịch đồng bộ tại 10 Khu du lịch quốc gia đã được công nhận và các địa điểm tiềm năng phát triển thành Khu du lịch quốc gia theo Quy hoạch được duyệt, bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.

Về vấn đề lập hồ sơ công nhận Khu du lịch quốc gia đối với các khu du lịch đã đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật cần đẩy nhanh quá trình thực hiện. Cùng với đó, thu hút đầu tư phát triển hạ tầng du lịch đồng bộ tại các cực tăng trưởng, khu vực động lực và các trung tâm du lịch. Rà soát, đồng bộ kết nối giao thông đến các cực tăng trưởng, khu vực động lực, trung tâm du lịch, Khu du lịch quốc gia và địa điểm tiềm năng phát triển thành Khu du lịch quốc gia; trong đó, chú trọng kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không.

Phát triển sản phẩm du lịch cũng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa đến năm 2030. Để thu hút du khách trong nước quốc tế, ngành du lịch có thể mở rộng phát triển các sản phẩm du lịch biển đảo cao cấp, nghỉ dưỡng sinh thái, di sản văn hóa, du lịch đô thị gắn với kinh tế ban đêm.

Quan trọng hơn cả là cần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mới như: MICE, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp nông thôn, du lịch thể thao mạo hiểm, du thuyền, du lịch giáo dục, du lịch cửa khẩu, du lịch biên giới, du lịch cộng đồng khu vực biên giới bảo đảm nguyên tắc phát triển có kiểm soát.

Để phát triển thị trường du lịch, ngành du lịch cần triển khai xúc tiến quảng bá tại các thị trường trọng điểm gồm: Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Australia, châu Âu, Bắc Mỹ, Ấn Độ, Trung Đông, cũng như khôi phục thị trường truyền thống và phát triển thị trường mới. Bên cạnh đó, triển khai marketing điện tử, quảng bá trên các nền tảng số, xây dựng chiến dịch "Việt Nam - điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn". Tại các thị trường trọng điểm, tiềm năng, nghiên cứu thiết lập và vận hành hiệu quả mạng lưới văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam theo mô hình phù hợp.

Chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ cũng được nhận định là giải pháp quan trọng trong Chương trình hành động này. Theo đó, ngành du lịch cần đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh như: triển khai xây dựng phần mềm, ứng dụng du lịch thông minh phục vụ khách du lịch, doanh nghiệp, hướng dẫn viên và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch; hoàn thiện nền tảng số hỗ trợ kết nối doanh nghiệp du lịch với hệ thống thương mại điện tử, nền tảng thanh toán không tiền mặt. Qua đó, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả kinh doanh và trải nghiệm của du khách.

Song song với chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực du lịch cũng được xác định vừa nhiệm vụ, vừa là giải pháp cốt lõi của toàn ngành. Việc chuẩn hóa nhân lực du lịch theo tiêu chuẩn nghề khu vực ASEAN cần gắn với Khung trình độ quốc gia Việt Nam, chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và quy định của pháp luật về giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Trong bối cảnh hiện tại, quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch cần bồi dưỡng đội ngũ có năng lực về ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT) và các công nghệ số tiên tiến trong quản trị, kinh doanh và cung cấp dịch vụ du lịch.

Bên cạnh đó, tăng cường liên kết đào tạo quốc tế, phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch; nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và chương trình đào tạo của các trường du lịch. Đồng thời, thúc đẩy hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp du lịch, hiệp hội nghề nghiệp và địa phương trong đào tạo, thực tập, thực hành, đặt hàng đào tạo và giải quyết việc làm cho người học.

Cuối cùng, phát triển du lịch không thể tách rời bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững. Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh, triển khai thí điểm tại các khu du lịch trọng điểm và nhân rộng trong giai đoạn 2027-2030. Trước hết, triển khai lộ trình loại bỏ nhựa dùng một lần tại các khu, điểm du lịch, cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch và các cơ sở kinh doanh dịch vụ khác ven biển, đạt 100% vào năm 2030; vận hành theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Cùng với đó, xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn tại các trung tâm và khu du lịch quốc gia. Bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên rừng, đất ngập nước, đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch; giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu trong phát triển các khu, điểm du lịch, đặc biệt các khu, điểm du lịch ven biển, hải đảo. Tổ chức giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch có trách nhiệm, bảo vệ di sản và môi trường.

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trưởng từ 16-19%/năm. Về nhóm khách nội địa, đặt mục tiêu đón 160 triệu lượt khách với tốc độ tăng trưởng từ 3%/năm. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP. Ngoài ra, nhu cầu buồng lưu trú khoảng 1,5 triệu buồng và có 20 Khu du lịch quốc gia được công nhận.

Có thể bạn quan tâm

Công viên đá Núi Chúa kỳ thú dưới nắng chiều.

[Ảnh] Công viên đá Núi Chúa: "Bảo tàng địa mạo" triệu năm bên bờ biển Khánh Hòa

Nằm tĩnh lặng trong ranh giới Vườn Quốc gia Núi Chúa, Công viên đá Núi Chúa là một trong những điểm đến hoang sơ và kỳ vĩ bậc nhất Ninh Thuận (cũ). Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất, hàng vạn khối đá đã bị phong hóa, bào mòn thành những hình thù độc đáo, xếp chồng lên nhau vươn dài ra sát mép sóng.

Khách hàng trải nghiệm thanh toán QR xuyên biên giới. (Ảnh: HOÀNG TRANG)

Kết nối thanh toán, nâng trải nghiệm du lịch

Sự thay đổi trong cách lựa chọn điểm đến và sử dụng dịch vụ của du khách Trung Quốc đang đặt ra yêu cầu mới đối với du lịch Việt Nam. Bên cạnh sức hấp dẫn của cảnh quan, ẩm thực và văn hóa bản địa, khả năng thanh toán thuận tiện trở thành một mắt xích góp phần hoàn thiện trải nghiệm, mở rộng cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk

Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo được những kết quả bước đầu, hình thành một số mô hình, cải thiện điều kiện phục vụ khách du lịch, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.

Du lịch và Công nghiệp văn hóa có mối quan hệ mật thiết. (Ảnh: VEC)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Khi hai trụ cột du lịch và công nghiệp văn hóa song hành

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã định hướng phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với mục tiêu đến năm 2030 đóng góp trực tiếp từ 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế; đến năm 2045, tỷ lệ này đạt 14-15%, đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.

Bãi đá cuội 7 màu ở biển Cổ Thạch, Lâm Đồng được xem kiệt tác địa chất hiếm có, thu hút khách du lịch khám phá. (Ảnh: TÙNG LÂM)

Mở hướng phát triển mới cho du lịch Lâm Đồng

Bằng việc tái cấu trúc không gian thành mô hình liên kết mới và khai thác vào chiều sâu di sản bản địa, ngành du lịch Lâm Đồng đang hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững, từng bước định vị thương hiệu điểm đến chất lượng cao với chuỗi trải nghiệm riêng biệt, thú vị cho du khách.

Trận bán kết lượt đi giữa hai đội Thẩm Dương và Trường Xuân, diễn ra ngày 11/9, tại sân vận động Thiết Tây, thành phố Thẩm Dương. (Ảnh: LẬP ĐÀ)

Một giải bóng đá bình dân hâm nóng ngành du lịch Trung Quốc

Mùa hè năm nay, có một giải đấu đã trở thành hiện tượng nóng bỏng trong giới thể thao Trung Quốc, không chỉ bởi sự quan tâm của những người yêu bóng đá và công chúng, mà còn bởi khả năng kích cầu tiêu dùng, hâm nóng ngành du lịch các tỉnh Đông Bắc, vốn chỉ nổi tiếng bởi các loại hình du lịch băng tuyết vào mùa đông.

[Video] Khám phá Đồi Cổ Thạch: Bí ẩn ngủ yên giữa lòng "xứ Nẫu"

[Video] Khám phá Đồi Cổ Thạch: Bí ẩn ngủ yên giữa lòng "xứ Nẫu"

Nằm giữa cụm danh thắng nhộn nhịp của vùng phía Bắc Phú Yên (cũ), Đồi Cổ Thạch là một "toạ độ" mang vẻ đẹp và sự bí ẩn với hệ thống đường và tường được cấu thành từ hàng chục ngàn viên đá đều tăm tắp. Du khách đến nơi đây bị cuốn hút bởi sự thanh bình, kỳ bí và cảm giác như đang bước vào một "bảo tàng" thiên nhiên.

Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định văn hóa, bản sắc và chất lượng trải nghiệm là nền tảng, lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam. (Ảnh Lăng Tự Đức: Dawnhwang)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Phát huy giá trị di sản, tạo động lực phát triển du lịch

Ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Một trong những quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết là xác định văn hóa, bản sắc và chất lượng trải nghiệm là nền tảng, lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Điểm dừng chân đầu tiên trải nghiệm, như “món khai vị” trước khi du khách ghé thăm Cồn Sơn là bè cá của ông Lý Văn Bon (Bảy Bon), để chiêm ngưỡng vẻ đẹp và sự đa dạng của các loài thủy sản trên sông Mê Kông.

[Ảnh] Cồn Sơn - nơi mộc mạc níu chân du khách

Cồn Sơn nằm giữa dòng sông Hậu thuộc phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Chỉ cần 10 phút qua thuyền máy từ bờ Bình Thủy, bạn sẽ có một ngày tham gia tour du lịch sinh thái cộng đồng, thưởng thức những món đặc sản nhà vườn khó quên.

Khách quốc tế thích thú khi được tham gia trò chơi dân gian Việt Nam. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Định vị thương hiệu du lịch Việt từ những trải nghiệm giàu bản sắc

Quá trình định vị, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam gắn với phát triển xanh và bền vững đòi hỏi một chiến lược quản trị dài hạn, đồng bộ. Xuyên suốt quá trình ấy, mỗi cam kết về chất lượng dịch vụ lữ hành được đong đếm bằng chính trải nghiệm thực tế và sự hài lòng của du khách thập phương.

Du khách tham quan Tràng An, Ninh Bình. (Ảnh: HOÀNG TRƯỜNG)

Tạo không gian tăng trưởng mới cho du lịch Việt

Trong bối cảnh du lịch toàn cầu có nhiều biến động, du lịch Việt Nam buộc phải ứng phó linh hoạt và tiếp cận với chiến lược toàn diện, bền vững hơn, nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị từ số lượng sang chất lượng.

Du khách trải nghiệm trình diễn cá lóc “bay” ở nhà vườn Thành Tâm, Cồn Sơn. (Ảnh: MỸ HÀ)

Về Cồn Sơn xem cá lóc “bay”

Hành trình 11 năm biến cù lao nghèo khó thành điểm đến du lịch cộng đồng nổi tiếng ở miền Tây đã cho thấy ý chí vươn lên của những người nông dân ở Cồn Sơn (phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Giờ đây, cuộc sống sông nước, miệt vườn đã đổi thay tích cực, tình làng nghĩa xóm thêm khăng khít nhờ du lịch.

Sắc màu thổ cẩm rực rỡ ở chợ phiên Si Ma Cai (Lào Cai) là điểm nhấn thu hút khách du lịch. (Ảnh: THI PHONG)

Du lịch “tiếp sức” cho làng nghề

Hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề đang tạo nên một nguồn tài nguyên dồi dào, giàu bản sắc cho du lịch Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nhu cầu của du khách chuyển dần từ tham quan, mua sắm sang tìm hiểu đời sống bản địa.