Minh bạch thông tin đối với khách hàng về giá, chất lượng dịch vụ OTT viễn thông

Nhà cung cấp dịch vụ OTT viễn thông sẽ phải minh bạch thông tin đối với khách hàng về giá, điều kiện hợp đồng, chất lượng dịch vụ nếu có; đồng thời có trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng, cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra khi có yêu cầu.
Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Sáng 22/6, trong phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật Viễn thông (sửa đổi), Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng tham gia giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu liên quan đến Quỹ dịch vụ viễn thông công ích, trung tâm dữ liệu và dịch vụ điện toán đám mây, dịch vụ OTT viễn thông…

Duy trì Quỹ dịch vụ viễn thông công ích nhưng cần xác định rõ mục tiêu, cách thức quản lý

Về Quỹ dịch vụ viễn thông công ích, Bộ trưởng cho biết Quỹ này thực chất là Quỹ dịch vụ phổ cập, quốc gia nào cũng phải đặt mục tiêu phổ cập viễn thông, phổ cập Internet, phủ sóng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nhất là để phát triển kinh tế số, xã hội số.

Nếu Nhà nước nhận lấy trách nhiệm phổ cập bằng ngân sách nhà nước thì các nhà mạng có xu thế chỉ đầu tư ở những nơi đông dân và có lãi cao, vì thế Nhà nước phải đầu tư rất nhiều, bởi vậy đa số các quốc gia đều chọn cách yêu cầu nhà mạng phải có trách nhiệm phổ cập.

“Có hai cách để nhà mạng thực hiện việc này, thứ nhất là yêu cầu các nhà mạng phải phủ sóng rộng, cách này có khó khăn cho các nhà mạng nhỏ. Cách thứ hai là các nhà mạng đóng góp vào Quỹ phổ cập theo doanh thu, to đóng nhiều, nhỏ đóng ít, sau đó Nhà nước dùng quỹ này để phổ cập dịch vụ và đa số các quốc gia đều theo cách thứ hai này”, Bộ trưởng nói.

Đại biểu Quốc hội góp ý vào dự thảo Luật. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Đại biểu Quốc hội góp ý vào dự thảo Luật. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Bộ trưởng thông tin thêm, ở Việt Nam, Quỹ này cơ bản lại giao cho chính các nhà mạng thực hiện, tức là cơ bản nhà mạng nhận lại tiền đóng góp của mình để thực hiện phổ cập dịch vụ, phổ cập 2G xong đến 3G, 4G, 5G và tiếp tục không dừng lại. Quỹ đã góp phần tích cực để Việt Nam có vùng phủ sóng rộng, người dân được phổ cập dịch vụ và có điện thoại vào loại nhóm đầu trên thế giới.

Thừa nhận thời gian qua vận hành của quỹ có một số bất cập, như giải ngân chậm, tồn quỹ, song Bộ trưởng cho rằng, cần phải điều chỉnh các quy định trong dự thảo Luật theo hướng xác định rõ mục tiêu, cách thức thu, quản lý, sử dụng để quỹ vận hành tốt hơn thay vì dừng hoạt động của quỹ như là ý kiến của nhiều đại biểu.

“Quỹ dịch vụ phổ cập của chúng ta ngoài phủ sóng vùng khó khăn còn hỗ trợ bà con vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cả thiết bị và chi phí sử dụng dịch vụ ở mức cơ bản. Các chương trình giảm nghèo của Nhà nước đều dùng quỹ này để hỗ trợ bà con”, Bộ trưởng nói và đề nghị Quốc hội xem xét cho tiếp tục duy trì quỹ.

Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ báo cáo Chính phủ xin Quốc hội cho đổi tên quỹ thành Quỹ dịch vụ phổ cập và thay đổi một số cơ chế để khắc phục các tồn tại, đồng thời cũng sẽ gửi các đại biểu Quốc hội báo cáo bổ sung về hoạt động của quỹ thời gian vừa qua.

Quản lý ở mức tối thiểu nhưng xử phạt thì nghiêm minh

Về dịch vụ OTT viễn thông, đây là các dịch vụ nhắn tin thoại giống như dịch vụ viễn thông cơ bản nhưng được cung cấp bởi công nghệ Internet. Quan điểm của Bộ Thông tin và Truyền thông là quản lý dịch vụ không phụ thuộc vào công nghệ.

Tuy nhiên, Bộ trưởng cho rằng, dịch vụ OTT viễn thông không có hạ tầng, người dùng dễ thay đổi nhà cung cấp, do thủ tục đăng ký dịch vụ đơn giản, thị trường thì rất cạnh tranh vì nhiều nhà cung cấp, do vậy quản lý phải ít hơn, phải mềm hơn dịch vụ viễn thông truyền thống.

Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Theo đó, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ nghiên cứu tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội theo hướng: quản lý ở mức tối thiểu nhưng xử phạt thì nghiêm minh; quản lý cơ bản dựa trên những gì mà nhà cung ứng dịch vụ đã có để tránh phát sinh thêm chi phí tuân thủ; quản lý sẽ không phân biệt nhà cung cấp dịch vụ lớn hay nhỏ, thu tiền hay không thu tiền, trong nước hay ngoài nước.

Đồng thời, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phải minh bạch thông tin đối với khách hàng về giá, về điều kiện hợp đồng, về chất lượng dịch vụ nếu có; bảo mật thông tin của khách hàng, cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra khi có yêu cầu, khách hàng khi đăng ký sử dụng dịch vụ thì phải cung cấp thông tin như số điện thoại.

“Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ đã thực hiện việc đăng ký và xác thực thông qua số điện thoại. Do vậy, quy định này không làm phát sinh thêm chi phí. Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ báo cáo Chính phủ cân nhắc giảm nhẹ các điều kiện kinh doanh từ cấp phép đăng ký xuống hình thức thông báo”, Bộ trưởng nói.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động tại phòng thí nghiệm Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Diệp Ngọc)

Chiến lược công nghệ lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền công nghệ, tích hợp không gian số toàn cầu

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công nghệ lượng tử được đặt ở vị trí trung tâm, cụ thể hóa trong Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao tăng mạnh mức xử phạt.

Tăng mức xử phạt hàng loạt thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao

Từ 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thay thế nhiều quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đáng chú ý, nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao... đã tăng mạnh mức xử phạt.

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.