Miệt mài giúp người dân bản Dao thoát nghèo

Giữa vùng đất khó của bản Dao, phường Thống Nhất (Phú Thọ) có một người phụ nữ đã ngoài tuổi 70, nhưng hằng ngày vẫn miệt mài với núi đồi, nhà xưởng, đau đáu với những trăn trở về sinh kế cho người dân.

Bà Nguyễn Thị Bình (người đứng giữa) cùng các thành viên hợp tác xã tại cánh đồng sả bản Dao, xã Thống Nhất.
Bà Nguyễn Thị Bình (người đứng giữa) cùng các thành viên hợp tác xã tại cánh đồng sả bản Dao, xã Thống Nhất.

Đó là bà Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Dao, người đã nhiều năm gắn bó với cây sả, thắp lên khát vọng thoát nghèo bền vững cho cộng đồng.

Phường Thống Nhất chủ yếu là diện tích đất đồi, nông dân nơi đây chủ yếu canh tác cây sả (sả chanh) để mưu sinh và là nguồn thu nhập chính. Có những thời điểm, sản phẩm giá bán rất cao, người dân làm ra tới đâu, tiêu thụ hết tới đó.

Thực tế nêu trên khiến cho người dân tự phát, ồ ạt mở rộng diện tích sản xuất. Khi cung vượt quá cầu dẫn tới giá sản phẩm xuống thấp, chỉ khoảng 2.000 đồng/kg, nhiều hộ dân lao đao vì không tiêu thụ được đã đốt bỏ cả ruộng sả để chuyển sang trồng loại cây khác.

Không những vậy, đất đồi khu vực nơi đây rất khó canh tác trong điều kiện khô cằn và thiếu nước. Điều đó khiến bà Bình trăn trở, suy nghĩ tìm lời giải cho bài toán khó về phát triển kinh tế bền vững gắn với tạo việc làm thường xuyên tại địa phương. Bà Bình cho biết: “Cơ duyên tới khi cùng sinh hoạt trong Chi hội phụ nữ, tôi đã được đi tham quan, học hỏi các mô hình kinh tế tại các địa phương khác.

Từ những lần đi thực tế trực tiếp tại huyện Lương Sơn, Yên Thủy (tỉnh Hòa Bình trước đây), tôi nhận ra hướng đi khả thi cho sản phẩm địa phương, đó là chiết xuất tinh dầu sả để tạo ra giá trị cao hơn. Tôi hiểu rằng, chỉ khi chuyển từ sản xuất nguyên liệu sang chế biến sâu, sản phẩm mới có thể đứng vững trước biến động thị trường”.

Năm 2015, Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Dao chính thức ra đời. Những ngày đầu, hợp tác xã đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức: Vốn ít, kinh nghiệm hạn chế, cơ sở vật chất gần như tay trắng. Chưa có dây chuyền chưng cất, hợp tác xã phải thu mua sả nguyên liệu của người dân rồi thuê cơ sở bên ngoài chế biến tinh dầu. Chi phí cao, lợi nhuận thấp, đi lại xa xôi, vất vả, thế nhưng chính quyết định bao tiêu toàn bộ sản lượng cây sả đã tạo ra “điểm tựa” quan trọng giúp người dân yên tâm, không còn phải lo đầu ra.

Niềm tin bắt đầu được gây dựng. Năm 2019, Đề án “Trồng và chế biến tinh dầu sả theo chuỗi giá trị nhằm cung cấp các sản phẩm an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường” của bà Bình đoạt giải tại cuộc thi “Phụ nữ và tương lai của nền kinh tế xanh”. Khoản hỗ trợ 150 triệu đồng tuy không lớn, nhưng là nguồn lực quý giá với một hợp tác xã còn non trẻ.

Từ nền tảng đó, bà Bình vận động thêm vốn góp của các thành viên và vay ngân hàng, đầu tư khoảng 500 triệu đồng xây dựng nhà xưởng, mua dây chuyền chưng cất tinh dầu hiện đại. Khi tự chủ được khâu chế biến, hợp tác xã bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới, chất lượng tinh dầu ổn định, quy trình sản xuất bài bản, chi phí giảm, giá trị gia tăng cao hơn. Không dừng ở sản xuất, bà Bình còn chú trọng đầu tư nhãn mác, bao bì để nâng tầm giá trị sản phẩm, tạo uy tín với người tiêu dùng.

Đáng chú ý, năm 2021, khi đại dịch Covid-19 bùng phát, nhu cầu tinh dầu sả tăng cao, sản phẩm của hợp tác xã liên tục “cháy hàng”... Hành trình dài của cây sả chanh nhỏ bé trên mảnh đất Thống Nhất ghi dấu sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cá nhân bà Bình và các thành viên hợp tác xã. Năm 2020, sản phẩm tinh dầu sả chanh của hợp tác xã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (trước đây) cấp chứng nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh.

Năm 2021, sản phẩm tinh dầu sả chanh của Hợp tác xã Nông nghiệp bản Dao (phường Thống Nhất) được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (cũ) công nhận đạt OCOP 3 sao cấp tỉnh; năm 2022 được chứng nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp khu vực; năm 2023 đạt danh hiệu sản phẩm tiêu biểu các tỉnh phía bắc; năm 2024, sản phẩm được bình chọn trong Tốp 3 sản phẩm “Người tiêu dùng yêu thích” và đoạt tiếp giải thưởng “Mai An Tiêm” của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam...

Những danh hiệu ấy không chỉ là vinh danh một sản phẩm, mà còn là minh chứng cho hướng đi đúng đắn của kinh tế hợp tác gắn với chế biến sâu. Đến nay Hợp tác xã Nông nghiệp bản Dao đã có 86 thành viên, 100% là người dân tộc thiểu số, thu nhập ổn định khoảng từ 5 đến 6 triệu đồng/ người/tháng.

Con số ấy dù chưa lớn, nhưng ở một bản vùng cao, đó là bước tiến dài trên hành trình giảm nghèo bền vững. Không dừng lại ở tinh dầu sả, những năm qua, hợp tác xã đã mở rộng sang các sản phẩm như cam, bưởi, mật ong, măng; chế biến thêm tinh dầu cam, bưởi, quế từ vùng nguyên liệu tại chỗ.

Năm 2025, hai sản phẩm “Bưởi bản Dao Thống Nhất” và “Cam bản Dao Thống Nhất” được công nhận OCOP 3 sao, giúp hơn 4 ha cam tiêu thụ thuận lợi dịp Tết Nguyên đán 2026. Điều đáng nói, mô hình sản xuất của bà Bình đã góp phần định hình tư duy sản xuất nông nghiệp xanh, bền vững ngay tại địa phương khi gắn trồng trọt với chế biến, gắn sản phẩm với thương hiệu, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường, có trách nhiệm vì cộng đồng.

Ông Nguyễn An Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Thống Nhất cho biết: Hợp tác xã Nông nghiệp bản Dao là đơn vị tiêu biểu có nhiều đóng góp tích cực cho địa phương. Những năm qua, đơn vị đã giúp nhiều người dân trồng sả trên địa bàn phường và các vùng lân cận có đầu ra ổn định. Ngoài ra, hợp tác xã còn phát triển các sản phẩm nông nghiệp theo hướng nông nghiệp xanh, bền vững, góp phần tạo việc làm ổn định, xóa đói, giảm nghèo bền vững cho người dân.

Những thành quả đạt được càng thôi thúc bà Nguyễn Thị Bình tiếp tục dám nghĩ, dám làm để đưa sản phẩm của hợp tác xã ra khỏi thị trường trong nước và từ đó triển khai, bố trí, sắp xếp lại các khâu sản xuất, chế biến với ý định đưa sản phẩm củ sả tới thị trường Nhật Bản.

Điều đó đòi hỏi cần đầu tư thêm máy móc, tìm hiểu thêm những yêu cầu khắt khe của thị trường và điều chỉnh sản xuất. Bà Bình cho biết, chúng tôi mong muốn được Nhà nước hỗ trợ thêm vốn, trang thiết bị máy móc để nâng cấp quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, được hỗ trợ đào tạo ứng dụng chuyển đổi số trong sản xuất và quảng bá sản phẩm, từ đó đưa sản phẩm vươn tới những thị trường lớn hơn.

Nhìn lại hành trình 10 năm khởi nghiệp, câu chuyện của bà Nguyễn Thị Bình không đơn thuần là thành công của một sản phẩm nông nghiệp mà còn là câu chuyện về tinh thần vượt khó, dám nghĩ dám làm, mạnh dạn đưa sản phẩm vươn ra “biển lớn” của một hợp tác xã nhỏ.

Với những nỗ lực không ngừng và thành tích đạt được, nhiều năm liền, bà Nguyễn Thị Bình đã được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (trước đây) tặng thưởng nhiều bằng khen và danh hiệu “Phụ nữ tiêu biểu Việt Nam năm 2024”; “Phụ nữ cao tuổi tiêu biểu Việt Nam năm 2025”.

Có thể bạn quan tâm

Mô hình nuôi cầy vòi và cầy hương của anh Bùi Anh Phương, thôn Quyết Tiến.

Tạo sinh kế bền vững ở Vĩnh Tuy

Tận dụng tiềm năng sẵn có về đất đai, khí hậu cùng sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, nhiều mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tại xã Vĩnh Tuy, tỉnh Tuyên Quang sau sáp nhập đang được nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường.

Chăn nuôi ngựa bạch mang lại sinh kế bền vững cho nhiều hộ gia đình ở xã Thống Nhất.

Hiệu quả từ mô hình chăn nuôi ngựa bạch

Ngựa bạch là giống vật nuôi mang lại nhiều giá trị cao trong y học cổ truyền. Ngoài giá trị đạm từ thịt, xương ngựa bạch nấu cao từ lâu đã là vị thuốc quý chữa trị các bệnh xương khớp, giảm suy nhược cơ thể, giúp bồi bổ sức khỏe.

Anh Trần Văn Hòa (xã Hữu Lũng) chăm sóc cây giống hoàng đàn tuyết.

Làm giàu từ giống cây quý

Khát vọng làm giàu từ chính sản vật quê hương đã trở thành nguồn động lực thôi thúc anh Trần Văn Hòa, xã Hữu Lũng (Lạng Sơn) quyết tâm “hồi sinh” giống cây hoàng đàn tuyết từng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Vườn ươm cây của anh mang lại giá trị kinh tế cao, tạo sinh kế bền vững cho người dân trong tỉnh.

Cây quế đang trở thành cây làm giàu của bà con xã Trung Sơn.

Cây thoát nghèo ở Trung Sơn

Trên những sườn đồi nối tiếp nhau, mầu xanh thẫm của rừng quế trải dài, thẳng tắp, vươn lên giữa đại ngàn. Hương quế dìu dịu theo gió lan tỏa khắp không gian, không chỉ mang theo hơi thở của núi rừng mà còn mang đến một hướng phát triển kinh tế bền vững cho bà con xã Trung Sơn.

Nhiều phụ nữ trong bản Na Sang, xã Núa Ngam có thêm nguồn thu bằng các sản phẩm thổ cẩm được dệt thủ công.

Những tấm gương phụ nữ khởi nghiệp thành công

Không cam chịu hoàn cảnh cùng sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số ở Điện Biên đã chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ của Hội Liên hiệp Phụ nữ để khởi nghiệp, phát triển kinh tế. Qua đó từng bước làm chủ sinh kế, khẳng định vị thế trong gia đình và xã hội.

Mô hình sinh kế giúp nhiều người dân miền núi phía tây Quảng Ngãi nâng cao thu nhập.

Tháo gỡ vướng mắc, tạo đà giảm nghèo bền vững

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 đã trở thành một trong những động lực quan trọng và đến nay đạt nhiều kết quả tích cực. Song, bên cạnh những thành tựu, hành trình giảm nghèo vẫn đối diện không ít khó khăn, thách thức.

Cán bộ chiến sĩ biên phòng giúp đỡ xây sửa nhà cho người dân.

Dấu ấn giảm nghèo ở Lạng Sơn

Những năm qua, công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được quan tâm, thực hiện đồng bộ, kịp thời, mang lại cuộc sống ấm no cho nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Tiểu dự án Cải thiện dinh dưỡng góp phần giảm suy dinh dưỡng thấp còi và nâng cao sức khỏe, thể chất cho trẻ em.

Cải thiện dinh dưỡng trong hành trình giảm nghèo bền vững

Từ khi triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, Tiểu dự án Cải thiện dinh dưỡng tạo ra những thay đổi tích cực trong đời sống người dân vùng khó khăn, góp phần quan trọng vào việc giảm nghèo đa chiều và phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trồng cà phê giúp nhiều hộ dân thoát nghèo.

Hiệu quả công tác giảm nghèo ở Điện Biên

Những kết quả tích cực triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 tại Điện Biên đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh.

Nhiều hộ dân nỗ lực chăn nuôi, vươn lên làm giàu, thoát nghèo.

Đa dạng hóa mô hình sinh kế, triển khai kịp thời chính sách hỗ trợ

Sau gần 5 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, tỉnh Phú Thọ cơ bản đã hoàn thành mục tiêu đề ra; các chính sách hỗ trợ người nghèo được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng. Diện mạo các làng quê, thôn bản có nhiều thay đổi, đời sống người dân từng bước được cải thiện và nâng cao.

Nông dân xã Quài Tở thu hái cà-phê chín đỏ trên vườn cây đầu dòng.

Mùa cà-phê chín đỏ dưới chân đèo Pha Đin

Sau hơn 10 năm gắn bó và kiên trì chăm bẵm vun gốc, năm nay người dân trồng cà-phê ở xã Quài Tở, tỉnh Điện Biên đã đón mùa quả ngọt. Cà-phê Quài Tở được mùa, được giá đã xua đi vất vả, nhọc nhằn của người nông dân dưới chân đèo Pha Đin.

Giữ bản sắc để phát triển du lịch bền vững

Giữ bản sắc để phát triển du lịch bền vững

Trong bối cảnh du lịch toàn cầu chuyển mạnh sang giá trị bản địa và trải nghiệm chân thực, văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đang nổi lên như nguồn lực đặc biệt quan trọng cho phát triển bền vững.

Mô hình tắm lá thuốc của người Dao xã Tả Phìn mang lại thu nhập ổn định cho chị em phụ nữ.

Chuyện giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Là tỉnh miền núi với hơn 30 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng cao, biên giới, đời sống còn nhiều khó khăn, tuy nhiên, nhờ những chính sách đặc thù của Đảng, Nhà nước, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở địa phương.

Miến dong Bản Xèo được du khách ưa chuộng.

Cây dong riềng xóa nghèo ở Bản Xèo

Từ chỗ chỉ là cây trồng có diện tích nhỏ lẻ, đến nay, cây dong riềng đã phát triển mạnh, trở thành cây trồng chủ lực góp phần quan trọng phát triển kinh tế địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân xã vùng cao Bản Xèo, tỉnh Lào Cai.

Ông Hoàng Văn Nam kiểm tra chất lượng quả dẻ để lấy hạt.

Khi mái nhà đủ vững, cây dẻ sẽ ra hạt

Sau khi sáp nhập ngày 1/7, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang khởi đầu một hành trình mới với những chính sách giảm nghèo đồng bộ. Đó là tập trung tạo lập "bệ đỡ" vững chắc thông qua các mô hình sinh kế bền vững và các chính sách an sinh thiết thực, giúp người dân tự lực vươn lên.

Mô hình trồng bí xanh thơm mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân xã Văn Bàn.

Làm giàu từ trồng bí xanh thơm

Thời gian gần đây, mô hình trồng bí xanh thơm của người dân xã Văn Bàn (tỉnh Lào Cai) đã trở thành điểm sáng tại địa phương, mở ra hướng phát triển mới cho nông sản. Từ những thử nghiệm ban đầu, cây bí xanh thơm nhanh chóng chứng minh hiệu quả, giúp người dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống.

Ông Mùa A Giàng chăm sóc đàn gia cầm của gia đình.

Lan tỏa tinh thần vượt khó, vươn lên thoát nghèo

Không khi nào nguôi nghĩ về khát vọng làm giàu chính đáng trên vùng đất quê hương chính là động lực thôi thúc ông Mùa A Giàng ở bản Nậm Chim, xã Si Pa Phìn (tỉnh Điện Biên) vươn lên, chăm chỉ làm ăn, học hỏi và áp dụng khoa học-kỹ thuật. 

Trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học của gia đình ông Nguyễn Văn Toàn.

Làm giàu từ chăn nuôi an toàn sinh học

Ông Nguyễn Văn Toàn, 61 tuổi ở khu 7, xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ là một trong 63 gương nông dân Việt Nam xuất sắc. Trang trại nuôi lợn an toàn sinh học rộng hàng nghìn mét vuông, trị giá hàng chục tỷ đồng đang được ông đầu tư mở rộng.

Đóng gói sản phẩm tại Hợp tác xã nông nghiệp Tân Thành. (Ảnh: TUẤN SƠN)

Cách làm hay ở Tân Thành

Từ cây nghệ, loài cây trồng quen thuộc nơi vùng đất khó, Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Thành, thôn Tân Thành, phường Bắc Kạn (Thái Nguyên) đã cùng với bà con đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng được chuỗi liên kết sản xuất nghệ củ bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao.

Cây hồi trở thành cây trồng chủ lực để xóa nghèo tại xã Đường Hồng.

Cây xóa nghèo của đồng bào vùng cao

Năm 2009, một lão nông đã mạnh dạn đưa cây hồi về trồng thử nghiệm tại xã Đường Hồng, tỉnh Tuyên Quang. Không ngờ loại cây này lại hợp với khí hậu, thổ nhưỡng địa phương, sinh trưởng tốt và mang lại thu nhập khá. Từ một hộ trồng thử nghiệm ban đầu, đến nay loại cây này đã trở thành cây xóa nghèo của người dân nơi đây.

Anh Trần Văn Cháng bên sản phẩm quế hữu cơ chuẩn bị xuất bán.

Người tiên phong đưa cây quế Viễn Sơn vươn xa

Đến Viễn Sơn, xã Xuân Ái, tỉnh Lào Cai, vùng đất bạt ngàn cây quế được trồng từ chân khe suối, vươn cao lên các đỉnh đồi, phóng ngút tầm mắt chỉ thấy một mầu xanh đậm của rừng quế. Về Khe Dứa, chúng tôi tìm gặp anh Trần Văn Cháng, chủ nhân của rừng quế hơn 20 ha, là Giám đốc Hợp tác xã Cháng Quế gồm 39 xã viên.

Ông Voòng Cá Lành (đứng giữa) chia sẻ về sự thành công của Hợp tác xã Voòng Dính, tỉnh Lai Châu trong việc sản xuất cây giống lâm nghiệp.

Điểm tựa về vốn cho nông nghiệp

Nhờ nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) chi nhánh Lai Châu, nhiều hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đã mạnh dạn mở rộng sản xuất, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập và góp phần đưa nông nghiệp địa phương phát triển.

Đồng bào Dao thôn Phiêng Phàng, xã Cao Minh thu hoạch lúa Nếp Tài. (Ảnh MA NINH)

Tạo sinh kế nhờ cây trồng đặc sản

Sau hợp nhất, bên cạnh những dư địa lớn đã được mở ra, tỉnh Thái Nguyên mới cũng đang sở hữu nhiều cây trồng đặc sản, có thương hiệu. Đây là điều kiện thuận lợi để tạo sinh kế bền vững cho người dân. Tỉnh đang tập trung ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ để mở rộng các vùng trồng cây đặc sản.