Theo những già làng Mnông, cúng bến nước không chỉ là một nghi lễ, đó còn là lời nhắc nhở về mối quan hệ thiêng liêng giữa con người với rừng, với nước-mạch sống của buôn làng.
Với người Mnông, từ thuở xa xưa, trên hành trình đi tìm vùng đất mới để lập buôn sinh sống, điều kiện tiên quyết không phải là độ màu mỡ của đất đai, mà là sự hiện diện của nguồn nước trong lành. Khi tìm thấy mạch nước tốt, trong sạch, họ sẽ dừng chân lập buôn, lập bến. Nguồn nước quan trọng như thế, nên sau khi mùa màng thu hoạch xong, thóc đã chất đầy, người Mnông lại tổ chức lễ cúng bến nước để tạ ơn thần linh. “Với người Mnông và nhiều dân tộc bản địa khác ở Tây Nguyên, sông, suối, nước, núi, rừng… đều có Yàng ngự trị. Không có nước thì không có buôn làng, không có cái nương, cái rẫy. Vì vậy, bảo vệ nguồn nước cũng chính là bảo vệ sự sống của cộng đồng”, già làng Cil Nếu cho biết.
Sáng sớm, dân làng tề tựu tại không gian bến nước thiêng ở suối Đạ Đòr. Các lễ vật dâng cúng Yàng được chuẩn bị đầy đủ, như lợn, gà trống lông đỏ, xôi, nải chuối chín, rượu cần… Khi đó, thầy cúng và già làng bắt đầu thực hiện nghi lễ. Già làng cất tiếng thông báo với bà con buôn làng: “Ơ bà con buôn làng! Buôn làng ta đã tìm được nguồn nước trong sạch, đất lành và rừng còn che chở. Bến nước là mạch sống của buôn làng, vậy nên ta quyết định làm lễ cúng bến nước, mỗi nhà hãy chuẩn bị lễ vật bằng tấm lòng thành”. Sau đó, thầy cúng thắp lửa, bày lễ và cất lời khấn mời thần nước cùng các thần đất, thần rừng… về chứng giám.
Trên khoảng đất bằng bên suối Đạ Đòr, lễ vật được bà con buôn làng bày biện cẩn trọng, hướng về nguồn nước. Già làng đại diện cho buôn làng dâng lời khấn tạ ơn các Yàng: “Ơi các Yàng-thần linh của nước, của đất, của núi rừng, hôm nay dân làng mang rượu, thịt đến dâng ngài. Xin Yàng hãy giữ cho dòng nước luôn đầy, cho mạch nước chảy mãi, cho nguồn nước mát lành để dân làng khỏe mạnh, no đủ, buôn làng yên vui”.
Khi lời khấn của già làng vừa dứt, thầy cúng đi vòng dưới suối, đổ chén tiết lợn pha rượu xuống dòng nước như sự kết nối giữa con người và thần linh. Khi các nghi thức thiêng liêng kết thúc, những giọt nước đầu tiên được phụ nữ hứng vào quả bầu khô đưa về đổ vào các ché rượu của buôn làng. Nhịp chiêng, điệu vũ bắt đầu rộn ràng, vòng xoang mùa hội thêm dài, thêm rộng. “Cúng bến nước là dịp để người Mnông tạ ơn Yàng đã cho con nước, cho rừng xanh, cho lúa trổ bông vàng. Đây là dịp để buôn làng cùng vui, thắt chặt tình đoàn kết”, già làng Cil Nếu chia sẻ.
Trong đời sống của người Mnông, bến nước không đơn thuần là nơi lấy nước sinh hoạt. Đó là linh hồn của buôn làng, là nơi kết nối con người với thần nước, với đất trời và núi rừng. Giữa đại ngàn nam Tây Nguyên, nơi những con suối len lỏi qua khe đá và những cánh rừng già che chở cho buôn làng, có một mạch nguồn văn hóa chưa bao giờ ngừng chảy, đó chính là bến nước, một biểu tượng trong đời sống của đồng bào Mnông. Sau phần lễ là phần hội tưng bừng, nơi những nhịp chiêng rộn rã, điệu xoang uyển chuyển của những chàng trai, cô gái miền sơn cước; cùng những trò chơi dân gian đã kéo mọi người xích lại gần nhau, bồi đắp thêm tình đoàn kết buôn làng.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đam Rông 4 Nguyễn Văn Quang cho biết: “Nghi lễ cúng bến nước của người Mnông không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh, mà còn lưu giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp gắn với phát triển bền vững. Địa phương sẽ hỗ trợ để xây dựng lễ hội cúng bến nước trở thành sản phẩm du lịch, lấy nguồn lực để bảo tồn và phát triển văn hóa”.
Cúng bến nước chính là lời người Mnông nói với thần linh về lời hứa giữ rừng, giữ nước để mạch sống không bao giờ đứt đoạn. Ngày nay, giữa những biến đổi không ngừng của đời sống hiện đại, việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghi lễ cúng bến nước chính là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau hãy giữ rừng, giữ nguồn nước mát lành để mạch nguồn văn hóa Mnông chảy mãi giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ.