Đi tìm điệu dân ca Cơ Ho

Muốn được hiểu thêm về dân ca của dân tộc Cơ Ho, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điền dã về các vùng có đông cư dân của tộc người này cư trú. Từ trò chuyện với các nhạc sĩ, nghệ nhân, chúng tôi đã tạm phân loại các lối hát của tộc người này.

Các nghệ nhân Cơ Ho ở xã Bảo Thuận, tỉnh Lâm Đồng trao truyền các làn điệu dân ca cho lớp trẻ.
Các nghệ nhân Cơ Ho ở xã Bảo Thuận, tỉnh Lâm Đồng trao truyền các làn điệu dân ca cho lớp trẻ.

Về loại hình tiền âm nhạc trong tộc người Cơ Ho, theo nhạc sĩ Krajăn Dick ở phường Lang Biang-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, thể thức này gọi là “hát-nói”, đã được hình thành khá sớm trong lịch sử và tồn tại cho đến ngày nay.

Ở cộng đồng người Cơ Ho, “hát-nói” có các hình thái tiêu biểu là Yalyau, Đơschrih và Nhorkon. Thể loại này có tính chất “hát như nói”, tính dị bản cao, tương đối phổ biến trong cộng đồng, nội dung mang tính nhân văn và giá trị giáo dục khá sâu sắc. Đây là những thể loại có giá trị làm tiền đề cho một dòng dân ca Cơ Ho tương đối hoàn chỉnh hình thành và phát triển.

Trước tiên là lối hát Yalyau. Yalyau, nguyên nghĩa là “ngẫm ngợi chuyện xưa”. Yalyau có thể hát từ ngày sang đêm. Có những bài Yalyau hát ba ngày đêm liền như K'Jai-Ka Lìn, Sa pur mang Ya Mòng-Dòi, K'Tằng dăm Prah...

Một bài Yalyau bao gồm rất nhiều câu. Đường nét, giai điệu giữa các câu về cơ bản là giống nhau. Mỗi câu Yalyau được bắt đầu từ âm “Ơ...ơ...” kéo dài. Nhịp điệu và khúc thức của Yalyau khá tự do. Bởi vậy, Yalyau được xem là thứ âm nhạc truyền miệng có tính dị bản và nặng tính tức hứng.

Loại hình thứ hai là lối hát Dơschrih. Nghệ nhân K'Điệp ở xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng giải thích: “Dơs” là nói, và “chrih” là chuyện lạ. Dơschrih là những bài hát mang nội dung mới lạ.

Có thể hiểu đó là những bài hát mà thay vì kể chuyện thì người Cơ Ho “hát” cho nhau nghe trong những cuộc đi xa để khỏe, để vui, bớt nặng nề dặm trường. Dơschrih thường không mang những nội dung quan trọng có tính giáo dục cao như Yalyau. Nội dung của lối hát này giản dị, là lời kể về dòng sông, con suối, quả núi gần buôn hay các loài vật thân quen.

Một lối hát khác là Nhorkon. Nhorkon theo tiếng Cơ Ho có nghĩa là “hát ru con”. Một bài Nhorkon ngắn hơn so với bài Dơschrih và càng ngắn hơn so với bài Yalyau; thường có độ dài 5-7 câu và được hát một hơi. Thể loại Nhorkon của người Cơ Ho bao gồm từ cách hát-nói giản đơn của Yalyau, Dơschrih đến cách hát tương đối hoàn chỉnh về câu nhạc, khúc thức như Lảhlông, Tâmpớt.

Đồng thời, Nhorkon cũng có những bài khá hoàn chỉnh như những bài hát chuẩn tắc. Nội dung của bài Nhorkon mang tính giáo dục là chính. Ở Nhorkon, người ta hay bắt gặp những câu về đạo lý làm người, ứng xử với thiên nhiên, với cộng đồng, về trách nhiệm của thành viên đối với gia đình, buôn làng.

Là một người nghiên cứu sâu về âm nhạc dân gian, nhạc sĩ Krajăn Dick nhận định: “Khác với loại hình tiền âm nhạc kể trên, cộng đồng người Cơ Ho từ xa xưa đã sáng tạo loại hình âm nhạc dân gian thật sự. Âm nhạc dân gian ở đây được hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ những hình thức sinh hoạt âm nhạc tương đối định hình, do chính dân gian sáng tác và lưu truyền chủ yếu dưới hình thức truyền miệng. Có hai loại hình Tâmpớt và Lảhlông đã đi vào chuẩn tắc nhất định”.

Hát Tâmpớt là hình thức hát đối đáp, thách đố bằng âm nhạc. Một bài Tâmpớt không hạn chế về số lượng các câu ứng tác, song không quá dài như Yalyau. Việc dài hay ngắn của bài Tâmpớt tùy thuộc vào nội dung nghi thức chào mời, thách đố; nhưng đặc biệt, việc ứng tác đó đã bị ràng buộc bởi những làn điệu nhất định như là khuôn phép. Tâmpớt đã đi dần vào chuẩn tắc, có một khuôn mẫu âm nhạc tương đối định hình.

Hát Tâmpớt phải có vốn sống, có khả năng ứng đối nhanh và phải thuộc đường nét, giai điệu. Cách hát Tâmpớt khá đặc biệt: Mỗi bài có nhiều câu; mỗi câu hoặc một vài câu là một ý. Cách ngắt câu của Tâmpớt thường rất đột ngột. Tâmpớt thường có hai vế “đối” và “đáp”. Khi đối và đáp trùng khớp thì bài Tâmpớt hoàn chỉnh. Loại hát đối đáp này thường được sử dụng trong nghi thức chào mời giữa khách và chủ. Lúc khách tới nhà, chủ nhà hoặc khách cất lời đối, khách hoặc chủ đáp lại.

Cùng với Tâmpớt, Lảhlông là một loại hình ca hát dân gian phổ biến trong vùng đồng bào dân tộc Cơ Ho. Lảhlông là lối hát giao duyên. Theo tiếng Cơ Ho, Lảhlông là “lời nói êm ái, tình tứ”. Loại hình ca hát này rất phổ biến trong lớp trẻ. Và không có gì ngạc nhiên khi sau những lời Lảhlông thắm thiết, trai gái trao nhẫn, trao vòng đính ước cùng nhau hẹn thề đến đầu bạc răng long.

Về hình thức, có thể hình dung Lảhlông là cách hát nhạc trên nền của những bài thơ trữ tình. Nhờ đó, Lảhlông không những được giới trẻ ưa chuộng mà còn được người lớn tuổi chấp nhận nhờ sức biểu cảm và nội dung phù hợp.

Một bài Lảhlông có nhiều câu. Tuy câu hát dài ngắn khác nhau nhưng ở Lảhlông, độ dài ngắn này đã tuân thủ theo một niêm luật nhất định. Nếu là câu dài, người hát có thể hát thành nhiều hơi nhưng phải giữ nhịp cho đúng. Điều đó chứng tỏ sự ổn định về nhịp và phách của Lảhlông.

Như vậy, so với các thể loại khác, Lảhlông của người Cơ Ho là một thể loại ca khúc dân gian tương đối hoàn chỉnh. Lảhlông đã có khuynh hướng ổn định về nhịp, phách và khúc thức cũng đã tương đối rõ ràng. Về phương diện nhạc học, từ Yalyau đến Lảhlông là cả một chặng đường phát triển nghệ thuật khá dài của dân ca Cơ Ho.

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào dân tộc Ba Na tổ chức lễ hội truyền thống tại không gian nhà rông văn hóa làng Kon Rơ Bang 2.

Nhà rông - biểu tượng ở làng Kon Rơ Bang 2

Nhà rông là thiết chế văn hóa truyền thống quan trọng của các dân tộc thiểu số ở phía tây Quảng Ngãi, đồng thời là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và đời sống văn hóa.

Người phụ nữ Ê Đê bên bếp lửa ở gian cuối ngôi nhà dài trong giờ nấu ăn cho gia đình.

Dấu ấn mẫu hệ trong ngôi nhà dài Ê Đê

Với nét kiến trúc độc đáo, nhà dài từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng gắn liền với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và tâm linh của cộng đồng người Ê Đê ở Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên. Ngôi nhà dài không chỉ là nơi ở, mà còn là không gian gắn kết nhiều đời, mang đậm dấu ấn của chế độ mẫu hệ.

Ankroet là công trình thủy điện đầu tiên tại Việt Nam, nhà máy mang dáng dấp của biệt thự Pháp cổ.

Nhà máy thủy điện cổ nhất Việt Nam

Nằm giữa rừng thông xanh trên cao nguyên Lang Biang, bên hồ Đan Kia-Suối Vàng, thủy điện Ankroet (phường Lang Biang, Đà Lạt, Lâm Đồng) là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam.

Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí độc đáo của người Co tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian vùng Trường Sơn-Tây Nguyên.

Nghệ thuật trang trí cây nêu của người Co

Ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, dân tộc Co cư trú lâu đời, có văn hóa rất riêng với lễ hội, những phương thức sinh hoạt, dấu ấn lịch sử. Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí của người Co độc đáo, tinh túy, tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian ở khu vực Trường Sơn và vùng Tây Nguyên rộng lớn.

Tượng nhà mồ trưng bày tại Bảo tàng Đắk Lắk.

Nghệ thuật tạc tượng nhà mồ ở Tây Nguyên

Tượng gỗ dân gian là một loại hình văn hóa độc đáo liên quan nhiều nghi lễ và lễ hội của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Gia Rai, Xơ Đăng… ở Tây Nguyên. Trong đó, tượng nhà mồ là biểu tượng tâm linh đặc sắc, thể hiện tình thương, tấm lòng của người sống đối với người đã khuất.

Các thiếu niên người Ê Đê ở Đắk Lắk biểu diễn diễn tấu Ching kram.

Ching kram-nhạc cụ độc đáo của người Ê Đê

Ching kram (còn gọi là chiêng tre) là một loại nhạc cụ truyền thống độc đáo gắn liền với đời sống văn hóa của người Ê Đê. Nếu cồng chiêng tượng trưng cho sức mạnh, niềm vui và nghi lễ linh thiêng thì Ching kram lại mang âm sắc dịu dàng, mộc mạc, gần gũi, như một tiếng nói riêng của thiên nhiên và tâm hồn con người.

Nét độc đáo trong lễ cưới của người Dao đỏ là cô dâu được nhà gái chủ động đưa sang nhà chồng trong trang phục truyền thống.

Bảo tồn văn hóa Dao đỏ ở Tây Nguyên

Trong không gian văn hóa đa sắc của Lâm Đồng, đồng bào Dao đỏ vẫn kiên trì gìn giữ những nghi lễ truyền thống như một cách khẳng định cội nguồn. Từ phong tục cưới hỏi độc đáo đến lễ cấp sắc thiêng liêng, mỗi nghi thức vừa đánh dấu bước ngoặt đời người, vừa thể hiện sức sống bền bỉ của bản sắc dân tộc.

Nghi lễ cúng bến nước của người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng.

Mạch sống của buôn làng Mnông

Ban mai, khi đại ngàn nam Tây Nguyên thức giấc, suối Đạ Đòr tinh khiết mang dòng nước mát lành đến với những buôn làng người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng. Hôm nay, đồng bào Mnông tổ chức lễ cúng bến nước đầu nguồn, xin Yàng (thần) giữ cho dòng nước luôn đầy, cho mạch nước chảy mãi.

Tháp Yang Prong (Thần lớn) hay còn được người dân địa phương gọi là tháp Chàm Rừng xanh nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk.

Huyền bí tháp Chàm giữa lòng Tây Nguyên

Tháp Yang Prong (Thần lớn) còn được gọi là tháp Chàm Rừng xanh, nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk là tháp Chàm duy nhất được tìm thấy còn nguyên vẹn trên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ.

Điệu xoang vui tươi trong nhịp chiêng tại lễ cầu mùa của người M'Nông ở Lâm Đồng.

Lễ cầu mùa của người M’Nông

Tây Nguyên vào mùa khô, những chiếc lá pơ lang lả tả rơi nhường chỗ cho những chùm hoa đỏ rực, tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của mùa Xuân cao nguyên. Lễ cầu mùa (nhô ndah) của người M’Nông ở Lâm Đồng cũng diễn ra khi mùa vụ kết thúc, lúa đã đóng vào cót chất đầy trong kho.

 Người Mnông vui uống rượu cần trong lễ dạm ngõ.

Độc đáo lễ dạm ngõ của người Mnông Prâng

Người Mnông gồm nhiều nhóm địa phương, như Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Noong, Mnông Prâng, là cư dân sinh sống lâu đời trên vùng đất Tây Nguyên. Với tín ngưỡng đa thần, từ khi sinh ra cho đến lúc về với thế giới bên kia, người Mnông trải qua nhiều nghi lễ, trong đó có lễ dạm ngõ, nghi lễ quan trọng phải tiến hành tốt đẹp mới được tổ chức lễ cưới.

Tiết mục biểu diễn của Công đoàn phường An Phú tham gia cuộc thi.

Hòa nhịp “Vũ điệu đại ngàn”

Cuộc thi “Công nhân Gia Lai hòa nhịp vũ điệu đại ngàn” vừa được phát động đã trở thành sân chơi văn hóa ý nghĩa, tạo sức lan tỏa rộng khắp. Qua những điệu múa dân gian, hình ảnh người công nhân hăng say lao động, gắn bó với truyền thống, khẳng định vai trò trong việc gìn giữ và phát huy giá trị tinh thần của núi rừng đại ngàn.

Bếp lửa nhà dài-nơi nuôi dưỡng đời sống tinh thần của người Mạ.

Phát huy giá trị sử thi Tây Nguyên

Sử thi, được người Kinh gọi là trường ca, người Ê Đê gọi là khan, người Ba Na gọi là H'ăngmon, người Gia Rai gọi là H'Rih, người Mơ Nông gọi là Ốt nrông,... đã ăn sâu, sống và phát triển trong không gian sinh tồn nghìn đời của cư dân miền thượng, góp phần làm cho không gian ấy thêm kỳ vĩ.

Ché được sử dụng trong các nghi lễ quan trọng của người Ê Đê.

Ché thiêng của người Ê Đê

Trong nhà sàn truyền thống của người Ê Đê giữa đại ngàn Tây Nguyên, ngoài các bộ chiêng quý là những chiếc ché với đủ kích thước, màu sắc và giá trị được đặt trang trọng sát vách nhà hay xếp hàng dài bên cây cột rượu, gắn liền với văn hóa uống rượu cần của người Ê Đê.

Nghệ nhân Ưu tú H’Grao đã có hơn 70 năm gắn bó với M’buốt. Bà còn thành thạo nhiều loại nhạc cụ dân tộc Mạ như: T’ron, t’rông, chiêng… và thuộc gần 100 bài dân ca.

Gìn giữ bản sắc dân tộc Mạ

Giữa nhịp sống hiện đại, cộng đồng người Mạ ở phía tây Lâm Đồng vẫn bền bỉ gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống. Trải qua bao thế hệ, âm thanh cồng chiêng, lời hát dân ca, hoa văn thổ cẩm cùng những phong tục, nghi lễ, tiếng nói, trang phục truyền thống được bảo tồn như cách họ giữ gìn linh hồn của dân tộc mình.

Thế hệ trẻ dân tộc Brâu với điệu chiêng Bơm pa rar.

Tiếng chiêng Bơm pa rar nơi ngã ba biên giới

tiếng chiêng Bơm pa rar (có nghĩa là mừng hội) của dân tộc Brâu tại làng Đắk Mế (xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi) ngân vang, mang theo khát vọng về mùa màng bội thu, cuộc sống thanh bình và tinh thần đoàn kết cộng đồng bền chặt.

Thiếu nữ Chu Ru với sản phẩm gốm truyền thống.

Độc đáo nghề gốm của người Chu Ru

Khi nhiều buôn làng ở Tây Nguyên từng bao đời du canh, du cư thì người Chu Ru làng Krăng Gọ, xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng chỉ ở dưới chân núi T'rôm Ụ. Loại đất đặc biệt, nguồn nước trong lành và những bàn tay tài hoa ở làng quê này đã góp phần tạo ra nghề thủ công truyền thống quý giá-nghề gốm.

Ngày hội trên cao nguyên Di Linh.

Độc đáo nghi lễ của người Cơ Ho Srê

Trên cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) điệp trùng đồi núi, người Cơ Ho Srê từ bao đời gắn bó với cây lúa nước. “Srê” nghĩa là ruộng, nên họ tự gọi mình là “cau Cơ Ho Srê” - người Cơ Ho làm ruộng nước. So với nhiều tộc người khác, người Cơ Ho Srê sớm biết dẫn nước từ suối về ruộng, khai mở nền văn minh lúa nước giữa lòng Tây Nguyên.

Già Siu Klah (giữa) và các thành viên Câu lạc bộ cồng chiêng làng Dek. (Ảnh ĐỒNG LAI)

Người kể chuyện cồng chiêng

Giữa những ngọn đồi trập trùng của xã Ia Hrú, tỉnh Gia Lai, có người đàn ông lặng lẽ nhưng bền bỉ gìn giữ một phần hồn cốt của văn hóa Tây Nguyên. Ông là già làng Siu Klah, người Jrai, sống tại làng Dek.

Ném còn thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán, lễ hội Xuân.

Biểu tượng văn hóa dân tộc Tày ở Tây Nguyên

Một trong những giá trị tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày tại xã biên giới Ia Đal, tỉnh Quảng Ngãi là trò chơi ném còn, (tiếng Tày gọi là "tung còn"), trò chơi dân gian truyền thống có từ lâu đời, phổ biến trong các lễ hội Xuân của người Tày, thể hiện ước vọng sinh sôi nảy nở, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Thiếu nữ Cơ Ho với gùi hoa truyền thống.

Gùi hoa - Biểu tượng văn hóa người Cơ Ho

“Đung đưa, đung đưa/Chiếc gùi đung đưa…”, âm điệu ca khúc H'Zen lên rẫy của nhạc sĩ Nguyễn Cường, khiến người nghe liên tưởng đến cô gái miền sơn cước duyên dáng cùng nhịp gùi mỗi sớm mai lên rẫy.

Chủ lễ thực hiện nghi thức tưới rượu cần lên cây Blang và các vật cúng tế trong Lễ Tăm Blang m’prang bon của người Mnông Pré, Nam Nung, Lâm Đồng.

Lễ Tăm Blang m’prang bon của người Mnông

Theo ấn định thời gian, cứ từ 3 đến 5 năm, đồng bào Mnông Pré ở xã Nam Nung (Lâm Đồng) lại cùng nhau tổ chức Lễ Tăm Blang m’prang bon (Lễ rào bon, trồng cây Blang) để cảm tạ thần Blang đã bảo vệ bon làng, đồng thời cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu.

Bếp lửa trong không gian nhà dài người Mạ ở Lâm Đồng.

Bếp lửa trong đời sống người Mạ

Giữa đại ngàn nam Tây Nguyên vẫn tồn tại ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ, tại khu vực Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Bà Ka Dít đã gần 70 mùa rẫy là chủ nhân cũng không nhớ nổi ngôi nhà khai sinh từ lúc nào.