Bảo tồn văn hóa Dao đỏ ở Tây Nguyên

Trong không gian văn hóa đa sắc của Lâm Đồng, đồng bào Dao đỏ vẫn kiên trì gìn giữ những nghi lễ truyền thống như một cách khẳng định cội nguồn. Từ phong tục cưới hỏi độc đáo đến lễ cấp sắc thiêng liêng, mỗi nghi thức vừa đánh dấu bước ngoặt đời người, vừa thể hiện sức sống bền bỉ của bản sắc dân tộc.

Nét độc đáo trong lễ cưới của người Dao đỏ là cô dâu được nhà gái chủ động đưa sang nhà chồng trong trang phục truyền thống.
Nét độc đáo trong lễ cưới của người Dao đỏ là cô dâu được nhà gái chủ động đưa sang nhà chồng trong trang phục truyền thống.

Giữa dòng chảy hiện đại đang len lỏi đến từng buôn làng, người Dao đỏ ở Lâm Đồng vẫn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc trưng. Những nghi lễ truyền đời không chỉ tồn tại như tập quán sinh hoạt, mà đã trở thành sợi dây kết nối cộng đồng, hun đúc ý thức gìn giữ cội nguồn. Một trong những minh chứng rõ nét trong bảo tồn văn hóa truyền thống là lễ cưới của người Dao đỏ.

Theo quan niệm truyền thống, lễ cưới không chỉ là việc riêng của đôi trai gái mà là sự kiện trọng đại của hai họ và cả bản làng. Lễ cưới thường tổ chức vào mùa khô khoảng từ tháng 10 đến tháng 12 âm lịch, khi nương rẫy đã thu hoạch xong, tạo điều kiện để đồng bào chung vui, chia sẻ. Trong lễ cưới của người Dao đỏ, thầy cúng được xem là cầu nối giữa con người với tổ tiên và thần linh. Trước lễ đón dâu, thầy cúng thực hiện nghi thức báo cáo tổ tiên, cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ nên duyên thuận hòa.

Quá trình cô dâu về nhà chồng, thầy cúng sẽ thực hiện các nghi thức truyền thống nhằm cầu mong cuộc sống hôn nhân êm ấm, suôn sẻ. Bà Đặng Mùi Lai, người Dao đỏ sinh sống tại xã Đắk Mil cho biết: “Giữa đường, thầy cúng làm lễ ở một khoảng đất trống để cầu may cho đôi trẻ. Người Dao tin rằng phải gạt bỏ điều xấu trước khi về nhà chồng thì cuộc sống hôn nhân mới thuận hòa”. Nét độc đáo trong lễ cưới là cô dâu được nhà gái chủ động đưa sang nhà chồng trong trang phục truyền thống.

Khi cô dâu về đến nhà trai, nghi thức đầu tiên là được mời trà, mời rượu theo phong tục truyền thống. Đây vừa là lời chào mừng cô dâu mới, vừa thể hiện sự trân trọng và gắn kết giữa hai bên gia đình, trước khi các nghi lễ tiếp theo được tiến hành. “Không khí đám cưới của người Dao đỏ luôn rộn ràng với tiếng nói cười, tiếng khèn, tiếng trống cùng những làn điệu dân ca truyền thống. Mâm cỗ cưới được chuẩn bị chu đáo với các món ăn đặc trưng, thể hiện sự hiếu khách và tinh thần cộng đồng.

Đám cưới không chỉ là niềm vui của hai gia đình, mà còn là dịp để cả bản làng sum họp, sẻ chia hạnh phúc”, bà Đặng Mùi Lai chia sẻ. Nếu lễ cưới của người Dao đỏ đánh dấu khởi đầu của đời sống gia đình, chứa đựng bề dày văn hóa, lịch sử và tinh thần cộng đồng bền chặt thì lễ cấp sắc lại là cột mốc trưởng thành của người nam giới, là khát vọng vươn lên, chứng minh bản thân của đàn ông người Dao, khi đã đủ tư cách đảm đương trách nhiệm với gia đình và cộng đồng.

Ông Đặng Chòi Sinh, Trưởng thôn Đắk Ri, xã Krông Nô cho biết, lễ cấp sắc thường tổ chức khi con trai từ 10 tuổi trở lên và vào thời điểm nông nhàn. Gia đình chuẩn bị lễ vật, lương thực để mời họ hàng, chòm xóm. Tùy điều kiện, nghi lễ có thể diễn ra trong một đến vài ngày; riêng cấp sắc 12 đèn kéo dài hơn với nhiều hoạt động văn hóa truyền thống. “Qua nghi lễ, người được cấp sắc được răn dạy phải sống có trách nhiệm, biết kính trên nhường dưới, giữ gìn danh dự dòng họ”, ông Sinh nhấn mạnh.

Ngày nay, trong quá trình giao thoa văn hóa, bối cảnh đời sống kinh tế-xã hội chuyển biến, đồng bào Dao đã chủ động rút gọn, lược bỏ những thủ tục không còn phù hợp, giảm bớt chi phí so với trước đây, nhưng giá trị cốt lõi vẫn được giữ gìn. Bà Đặng Mùi Viện, xã Krông Nô cho biết, trước đây, mỗi khi làm lễ cấp sắc, gia đình phải chuẩn bị từ 2-3 năm. Đầu tháng Chạp vừa qua, gia đình bà tổ chức lễ cấp sắc 3 đèn cho con trai.

Qua sự vận động của trưởng thôn và thầy mo, gia đình chỉ làm lễ đơn giản, gói trọn trong 1 ngày với sự tham dự của anh em trong dòng họ. Tuy nhiên, lễ vẫn giữ được sự trang nghiêm, bảo đảm ý nghĩa giáo dục truyền thống. Thời gian qua, bên cạnh công tác bảo tồn, phát huy những nét đẹp truyền thống, chính quyền địa phương các cấp cũng đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong thực hành những tín ngưỡng văn hóa.

Nhờ đó, các giá trị văn hóa truyền thống được phát huy trong khuôn khổ đời sống mới. Bà Trần Thị Phượng, Phó Trưởng phòng Văn hóa-Xã hội, xã Krông Nô cho biết, địa phương định hướng người dân thực hiện nếp sống văn minh, loại bỏ dần những hủ tục tốn kém, không còn phù hợp đời sống hiện nay. Nhờ vậy, nhiều nghi lễ đã gọn nhẹ hơn nhưng vẫn giữ được giá trị cốt lõi, vừa bảo đảm yếu tố văn hóa truyền thống, vừa phù hợp điều kiện kinh tế của từng gia đình.

Có thể bạn quan tâm

Không gian cư trú truyền thống của người Ê Đê gắn liền với các sinh hoạt cộng đồng.

Không gian cư trú truyền thống của người Ê Đê

Ở đại ngàn Tây Nguyên, người Ê Đê là một trong những dân tộc bản địa sinh sống lâu đời. Hình thức cư trú theo buôn làng cùng sự giao thoa giữa nhiều yếu tố văn hóa và sinh thái đã tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng người Ê Đê.

Phường Đông Gia Nghĩa (Lâm Đồng) tái hiện lễ mừng lúa mới của đồng bào Mnông.

Lễ mừng lúa mới của người Mnông

Lễ mừng lúa mới của đồng bào Mnông ở tỉnh Lâm Đồng từ lâu đã trở thành một sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc. Không chỉ đánh dấu mùa thu hoạch, lễ hội còn thể hiện niềm tin tâm linh, đạo lý biết ơn thiên nhiên và sự gắn kết bền chặt trong cộng đồng bon làng.

Đồng bào Ê Đê ở buôn Ky, phường Thành Nhất, tỉnh Đắk Lắk tái hiện phương thức sản xuất “chọc lỗ, tra hạt”.

Tái hiện phương thức sản xuất độc đáo của đồng bào Tây Nguyên

Hằng năm, khoảng cuối tháng 5, đầu tháng 6, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu nặng hạt, đồng bào các dân tộc ở đại ngàn Tây Nguyên lại bước vào mùa vụ mới. Những hạt giống tuyển chọn từ mùa trước, đựng trong chiếc giỏ xinh xắn đeo bên hông người phụ nữ, đung đưa theo nhịp bước chân...

Múa sư tử mèo của người Tày, Nùng trong lễ hội đầu xuân tại xã Đắk Sắk, tỉnh Lâm Đồng (Ảnh HỒ MAI)

Sắc màu Tây Bắc giữa lòng Tây Nguyên

Giữa cao nguyên Lâm Đồng, mỗi độ xuân về, buôn làng của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng từ miền núi phía bắc di cư vào lại rộn ràng điệu múa sư tử mèo. Điệu múa lưu giữ hồn cốt văn hóa, gửi gắm ước vọng bình an, no đủ của cộng đồng nơi miền đất mới.

Già làng người Ê Đê ngồi kể chuyện về văn hóa cồng chiêng cho các cháu học sinh bên bếp lửa trong ngôi nhà dài truyền thống.

Ấm áp bếp lửa người Ê Đê

Từ bao đời nay, bếp lửa luôn gắn liền sinh hoạt hằng ngày và đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Ê Đê ở Tây Nguyên. Họ tin rằng, lửa chính là “vị thần” may mắn, chỉ cần ngọn lửa rực đỏ trong nhà gia đình sẽ luôn ấm no, hạnh phúc.

Công trình kiến trúc Trường cao đẳng Đà Lạt nổi bật trong sương

Độc đáo kiến trúc Trường cao đẳng Đà Lạt

Trường cao đẳng Đà Lạt được công nhận Di tích kiến trúc quốc gia năm 2001. Đây là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, hiếm có, được Hiệp hội Kiến trúc quốc tế (UIA) vinh danh là một trong 1.000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới trong thế kỷ XX.

Đồng bào dân tộc Ba Na tổ chức lễ hội truyền thống tại không gian nhà rông văn hóa làng Kon Rơ Bang 2.

Nhà rông - biểu tượng ở làng Kon Rơ Bang 2

Nhà rông là thiết chế văn hóa truyền thống quan trọng của các dân tộc thiểu số ở phía tây Quảng Ngãi, đồng thời là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và đời sống văn hóa.

Người phụ nữ Ê Đê bên bếp lửa ở gian cuối ngôi nhà dài trong giờ nấu ăn cho gia đình.

Dấu ấn mẫu hệ trong ngôi nhà dài Ê Đê

Với nét kiến trúc độc đáo, nhà dài từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng gắn liền với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và tâm linh của cộng đồng người Ê Đê ở Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên. Ngôi nhà dài không chỉ là nơi ở, mà còn là không gian gắn kết nhiều đời, mang đậm dấu ấn của chế độ mẫu hệ.

Ankroet là công trình thủy điện đầu tiên tại Việt Nam, nhà máy mang dáng dấp của biệt thự Pháp cổ.

Nhà máy thủy điện cổ nhất Việt Nam

Nằm giữa rừng thông xanh trên cao nguyên Lang Biang, bên hồ Đan Kia-Suối Vàng, thủy điện Ankroet (phường Lang Biang, Đà Lạt, Lâm Đồng) là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam.

Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí độc đáo của người Co tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian vùng Trường Sơn-Tây Nguyên.

Nghệ thuật trang trí cây nêu của người Co

Ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, dân tộc Co cư trú lâu đời, có văn hóa rất riêng với lễ hội, những phương thức sinh hoạt, dấu ấn lịch sử. Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí của người Co độc đáo, tinh túy, tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian ở khu vực Trường Sơn và vùng Tây Nguyên rộng lớn.

Tượng nhà mồ trưng bày tại Bảo tàng Đắk Lắk.

Nghệ thuật tạc tượng nhà mồ ở Tây Nguyên

Tượng gỗ dân gian là một loại hình văn hóa độc đáo liên quan nhiều nghi lễ và lễ hội của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Gia Rai, Xơ Đăng… ở Tây Nguyên. Trong đó, tượng nhà mồ là biểu tượng tâm linh đặc sắc, thể hiện tình thương, tấm lòng của người sống đối với người đã khuất.

Các thiếu niên người Ê Đê ở Đắk Lắk biểu diễn diễn tấu Ching kram.

Ching kram-nhạc cụ độc đáo của người Ê Đê

Ching kram (còn gọi là chiêng tre) là một loại nhạc cụ truyền thống độc đáo gắn liền với đời sống văn hóa của người Ê Đê. Nếu cồng chiêng tượng trưng cho sức mạnh, niềm vui và nghi lễ linh thiêng thì Ching kram lại mang âm sắc dịu dàng, mộc mạc, gần gũi, như một tiếng nói riêng của thiên nhiên và tâm hồn con người.

Nghi lễ cúng bến nước của người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng.

Mạch sống của buôn làng Mnông

Ban mai, khi đại ngàn nam Tây Nguyên thức giấc, suối Đạ Đòr tinh khiết mang dòng nước mát lành đến với những buôn làng người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng. Hôm nay, đồng bào Mnông tổ chức lễ cúng bến nước đầu nguồn, xin Yàng (thần) giữ cho dòng nước luôn đầy, cho mạch nước chảy mãi.

Tháp Yang Prong (Thần lớn) hay còn được người dân địa phương gọi là tháp Chàm Rừng xanh nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk.

Huyền bí tháp Chàm giữa lòng Tây Nguyên

Tháp Yang Prong (Thần lớn) còn được gọi là tháp Chàm Rừng xanh, nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk là tháp Chàm duy nhất được tìm thấy còn nguyên vẹn trên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ.

Điệu xoang vui tươi trong nhịp chiêng tại lễ cầu mùa của người M'Nông ở Lâm Đồng.

Lễ cầu mùa của người M’Nông

Tây Nguyên vào mùa khô, những chiếc lá pơ lang lả tả rơi nhường chỗ cho những chùm hoa đỏ rực, tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của mùa Xuân cao nguyên. Lễ cầu mùa (nhô ndah) của người M’Nông ở Lâm Đồng cũng diễn ra khi mùa vụ kết thúc, lúa đã đóng vào cót chất đầy trong kho.

Các nghệ nhân Cơ Ho ở xã Bảo Thuận, tỉnh Lâm Đồng trao truyền các làn điệu dân ca cho lớp trẻ.

Đi tìm điệu dân ca Cơ Ho

Muốn được hiểu thêm về dân ca của dân tộc Cơ Ho, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điền dã về các vùng có đông cư dân của tộc người này cư trú. Từ trò chuyện với các nhạc sĩ, nghệ nhân, chúng tôi đã tạm phân loại các lối hát của tộc người này.

 Người Mnông vui uống rượu cần trong lễ dạm ngõ.

Độc đáo lễ dạm ngõ của người Mnông Prâng

Người Mnông gồm nhiều nhóm địa phương, như Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Noong, Mnông Prâng, là cư dân sinh sống lâu đời trên vùng đất Tây Nguyên. Với tín ngưỡng đa thần, từ khi sinh ra cho đến lúc về với thế giới bên kia, người Mnông trải qua nhiều nghi lễ, trong đó có lễ dạm ngõ, nghi lễ quan trọng phải tiến hành tốt đẹp mới được tổ chức lễ cưới.

Tiết mục biểu diễn của Công đoàn phường An Phú tham gia cuộc thi.

Hòa nhịp “Vũ điệu đại ngàn”

Cuộc thi “Công nhân Gia Lai hòa nhịp vũ điệu đại ngàn” vừa được phát động đã trở thành sân chơi văn hóa ý nghĩa, tạo sức lan tỏa rộng khắp. Qua những điệu múa dân gian, hình ảnh người công nhân hăng say lao động, gắn bó với truyền thống, khẳng định vai trò trong việc gìn giữ và phát huy giá trị tinh thần của núi rừng đại ngàn.

Bếp lửa nhà dài-nơi nuôi dưỡng đời sống tinh thần của người Mạ.

Phát huy giá trị sử thi Tây Nguyên

Sử thi, được người Kinh gọi là trường ca, người Ê Đê gọi là khan, người Ba Na gọi là H'ăngmon, người Gia Rai gọi là H'Rih, người Mơ Nông gọi là Ốt nrông,... đã ăn sâu, sống và phát triển trong không gian sinh tồn nghìn đời của cư dân miền thượng, góp phần làm cho không gian ấy thêm kỳ vĩ.

Ché được sử dụng trong các nghi lễ quan trọng của người Ê Đê.

Ché thiêng của người Ê Đê

Trong nhà sàn truyền thống của người Ê Đê giữa đại ngàn Tây Nguyên, ngoài các bộ chiêng quý là những chiếc ché với đủ kích thước, màu sắc và giá trị được đặt trang trọng sát vách nhà hay xếp hàng dài bên cây cột rượu, gắn liền với văn hóa uống rượu cần của người Ê Đê.

Nghệ nhân Ưu tú H’Grao đã có hơn 70 năm gắn bó với M’buốt. Bà còn thành thạo nhiều loại nhạc cụ dân tộc Mạ như: T’ron, t’rông, chiêng… và thuộc gần 100 bài dân ca.

Gìn giữ bản sắc dân tộc Mạ

Giữa nhịp sống hiện đại, cộng đồng người Mạ ở phía tây Lâm Đồng vẫn bền bỉ gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống. Trải qua bao thế hệ, âm thanh cồng chiêng, lời hát dân ca, hoa văn thổ cẩm cùng những phong tục, nghi lễ, tiếng nói, trang phục truyền thống được bảo tồn như cách họ giữ gìn linh hồn của dân tộc mình.

Thế hệ trẻ dân tộc Brâu với điệu chiêng Bơm pa rar.

Tiếng chiêng Bơm pa rar nơi ngã ba biên giới

tiếng chiêng Bơm pa rar (có nghĩa là mừng hội) của dân tộc Brâu tại làng Đắk Mế (xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi) ngân vang, mang theo khát vọng về mùa màng bội thu, cuộc sống thanh bình và tinh thần đoàn kết cộng đồng bền chặt.

Thiếu nữ Chu Ru với sản phẩm gốm truyền thống.

Độc đáo nghề gốm của người Chu Ru

Khi nhiều buôn làng ở Tây Nguyên từng bao đời du canh, du cư thì người Chu Ru làng Krăng Gọ, xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng chỉ ở dưới chân núi T'rôm Ụ. Loại đất đặc biệt, nguồn nước trong lành và những bàn tay tài hoa ở làng quê này đã góp phần tạo ra nghề thủ công truyền thống quý giá-nghề gốm.

Ngày hội trên cao nguyên Di Linh.

Độc đáo nghi lễ của người Cơ Ho Srê

Trên cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) điệp trùng đồi núi, người Cơ Ho Srê từ bao đời gắn bó với cây lúa nước. “Srê” nghĩa là ruộng, nên họ tự gọi mình là “cau Cơ Ho Srê” - người Cơ Ho làm ruộng nước. So với nhiều tộc người khác, người Cơ Ho Srê sớm biết dẫn nước từ suối về ruộng, khai mở nền văn minh lúa nước giữa lòng Tây Nguyên.