“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam
Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

- Thưa bà, phụ nữ Việt Nam đang có vị thế như thế nào trên thị trường lao động, khi đặt trong tương quan với khu vực và thế giới? Đâu là những tiến bộ đáng ghi nhận và khoảng cách chúng ta cần tiếp tục thu hẹp?

- Trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước củng cố nền tảng pháp lý nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào nền kinh tế. Những cải cách quan trọng bao gồm: Thúc đẩy nguyên tắc trả lương bình đẳng, tăng cường bảo vệ phụ nữ trước phân biệt đối xử và quấy rối tình dục tại nơi làm việc, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, mở rộng bảo hiểm xã hội, nâng cao khả năng tiếp cận đào tạo kỹ năng và việc làm. Đây là những bước tiến đáng ghi nhận, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Việt Nam cũng có những lợi thế đáng kể khi so sánh với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Năm 2026, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt Nam đạt 63%, gần tương đương mức 63,9% của phụ nữ trong độ tuổi từ 25 đến 54 trên toàn cầu.

Tuy nhiên, thách thức hiện nay là chuyển hóa tỷ lệ tham gia kinh tế cao thành những cơ hội và lợi ích bình đẳng hơn. Nhiều phụ nữ vẫn làm việc trong khu vực phi chính thức, ở những vị trí dễ bị tổn thương và có thu nhập thấp. Khối lượng lớn công việc chăm sóc, nội trợ không được trả lương tiếp tục hạn chế thời gian họ có thể dành cho đào tạo, phát triển kinh doanh và thăng tiến nghề nghiệp.

Trong lĩnh vực kinh doanh, phụ nữ hiện sở hữu khoảng 26,5% số doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng 93,2% trong số đó là doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc nhỏ. Các nữ doanh nhân thường gặp nhiều khó khăn hơn trong tiếp cận tài chính, công nghệ, mạng lưới kinh doanh và thị trường.

Những thách thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi phụ nữ khó tiếp cận việc làm chất lượng, cơ hội kinh doanh và dịch vụ chăm sóc phù hợp, họ cũng gặp nhiều trở ngại hơn trong việc gia tăng thu nhập và đảm nhiệm vị trí lãnh đạo.

Thu hẹp khoảng cách ấy, nhất là đối với phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ di cư, phụ nữ cao tuổi và phụ nữ khuyết tật, không chỉ góp phần thúc đẩy bình đẳng giới mà còn nâng cao năng suất lao động, tăng cường an sinh gia đình và tạo động lực cho tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.

- Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi xanh đang tái định hình thị trường lao động. Theo bà, đâu là những cơ hội đáng chú ý nhất đối với phụ nữ Việt Nam? Và làm thế nào để họ không chỉ tham gia mà còn có thể đảm nhiệm những vị trí có giá trị cao hơn?

- Tôi cho rằng có ba lĩnh vực nổi bật sẽ mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho phụ nữ trong thời gian tới: kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế chăm sóc.

Trong kinh tế số, mục tiêu phát triển ít nhất 50.000 nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp bán dẫn vào năm 2030, cùng kế hoạch xây dựng các trung tâm tài chính quốc tế, sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với kỹ sư, chuyên gia AI, dữ liệu, an ninh mạng, công nghệ tài chính và các dịch vụ số. Ưu tiên quan trọng là bảo đảm phụ nữ có cơ hội tham gia các vị trí kỹ thuật và vai trò ra quyết định, thay vì chỉ tập trung ở những công việc hành chính, bán hàng hoặc có giá trị gia tăng thấp.

Đối với kinh tế xanh, các lĩnh vực đều có tiềm năng tạo thêm việc làm và cơ hội kinh doanh. Phụ nữ cần được hỗ trợ để tham gia không chỉ với tư cách người lao động mà còn là nhà khoa học, doanh nhân, nhà đầu tư, nhà cung cấp công nghệ và nhà lãnh đạo.

Lĩnh vực thứ ba là kinh tế chăm sóc. Khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số và cấu trúc gia đình thay đổi, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động chăm sóc không được trả lương trong gia đình sẽ ngày càng thiếu bền vững. Đầu tư vào dịch vụ chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và các mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, vừa tạo ra việc làm chất lượng và mô hình kinh doanh bền vững. Tuy nhiên, lĩnh vực này cần có tiêu chuẩn nghề nghiệp, hệ thống chứng nhận năng lực, cơ chế tiền lương công bằng và chính sách bảo trợ xã hội phù hợp.

Bên cạnh các ngành, nghề mới, không nên bỏ qua những lĩnh vực phụ nữ đang đóng vai trò quan trọng như nông nghiệp, sản xuất, du lịch và doanh nghiệp nhỏ. Cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập và cơ hội thăng tiến trong các ngành hiện hữu cũng quan trọng không kém việc mở ra những công việc của tương lai.

s1323d.jpg
Công đoạn chế tác sản phẩm ngọc trai của Cty CP Ngọc trai Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, thương hiệu của nữ doanh nhân Nguyễn Thùy Hương.

- Công nghệ có thể giúp phụ nữ vượt qua những hạn chế về khoảng cách địa lý, thời gian và quy mô kinh doanh, nhưng liệu AI và tự động hóa có tạo ra những bất bình đẳng mới, nhất là với những nhóm phụ nữ vốn đã gặp nhiều khó khăn trên thị trường lao động?

- AI mang lại cơ hội lớn để phụ nữ tiếp cận giáo dục, việc làm linh hoạt, dịch vụ tài chính và khách hàng ngoài phạm vi cộng đồng nơi họ sinh sống. Đối với phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, công cụ số có thể hỗ trợ phân tích thị trường, quản lý hàng hóa, chăm sóc khách hàng và sáng tạo nội dung truyền thông, qua đó tiết kiệm thời gian, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Thông qua hợp tác giữa UN Women và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhiều phụ nữ điều hành các mô hình sinh kế và kinh doanh nhỏ đã được hỗ trợ nâng cao kỹ năng tiếp thị số, bán hàng qua livestream. Một số học viên tận dụng các chương trình livestream do báo chí, đài truyền hình địa phương tổ chức để tiếp cận khách hàng ngoài cộng đồng của mình.

Tuy nhiên, lợi ích của công nghệ không tự động đến với tất cả mọi người. Chuyển đổi số có thể làm gia tăng bất bình đẳng nếu phụ nữ thiếu thiết bị, kết nối internet với chi phí phù hợp, kỹ năng số nâng cao, nguồn vốn, dữ liệu và mạng lưới nghề nghiệp mở rộng.

Phụ nữ làm những công việc mang tính lặp lại hoặc yêu cầu kỹ năng thấp có thể chịu tác động mạnh từ tự động hóa nếu không được đào tạo lại kịp thời. Phụ nữ nông thôn, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ khuyết tật và những người có điều kiện kinh tế hoặc học vấn hạn chế cũng có nguy cơ bị bỏ lại phía sau. Ngoài ra, các thuật toán và dữ liệu mang định kiến có thể tái tạo sự phân biệt đối xử trong tuyển dụng, tiếp cận tín dụng và các dịch vụ thiết yếu.

Không chỉ vậy, an toàn số cũng chính là một phần của an ninh kinh tế. Để chuyển đổi số thật sự mang lại lợi ích cho phụ nữ, chúng ta phải đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ, nâng cao kỹ năng và xây dựng cơ chế bảo vệ trước những rủi ro mới.

- Từ kinh nghiệm quốc tế và những chương trình UN Women đã triển khai, theo bà, Việt Nam cần ưu tiên thay đổi điều gì để thu hẹp khoảng cách giữa cơ hội nghề nghiệp và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ?

- Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đào tạo kỹ năng là cần thiết, nhưng chỉ đào tạo thôi là chưa đủ. Phụ nữ chỉ có thể đạt được những bước tiến bền vững khi chuyện nâng cao năng lực gắn liền với dịch vụ chăm sóc, môi trường làm việc công bằng, khả năng tiếp cận tài chính, thị trường và lộ trình thăng tiến rõ ràng.

Bộ Nguyên tắc Trao quyền cho Phụ nữ (WEPs) cung cấp một khuôn khổ hành động thực tiễn cho doanh nghiệp. Đến nay, hơn 260 doanh nghiệp tại Việt Nam đã cam kết thực hiện WEPs, cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của khu vực tư nhân đối với vấn đề này.

Tại Việt Nam, Chương trình phát triển 10.000 nữ giám đốc điều hành đến năm 2030 là cơ hội để vận dụng những kinh nghiệm quốc tế. Từ chương trình WE RISE Together, chúng tôi nhận thấy cách tiếp cận hiệu quả là kết hợp học tập linh hoạt, cố vấn, xây dựng mạng lưới đồng đẳng, phát triển kỹ năng lãnh đạo và đo lường kết quả kinh doanh, thay vì chỉ đếm số người tham gia đào tạo.

Bài học cốt lõi từ kinh nghiệm quốc tế là phụ nữ không nên phải tự mình vượt qua những rào cản mang tính hệ thống. Muốn khai mở đầy đủ tiềm năng của một nửa dân số, chính sách, doanh nghiệp và thị trường cũng phải thay đổi theo hướng công bằng, bao trùm và tạo cơ hội bình đẳng hơn cho mọi phụ nữ.

- Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của bà! ■

Phụ nữ chiếm 43,5% số người có bằng thạc sĩ và 36,5% số người tốt nghiệp các ngành STEM, gồm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Đồng thời, 18% doanh nghiệp niêm yết có phụ nữ tham gia hội đồng quản trị. Những con số này cho thấy tiềm năng lớn của phụ nữ Việt Nam trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững”.

Có thể bạn quan tâm

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.