Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC
Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Từ chiếc điện thoại trả góp đến giấc mơ làm chủ

Năm 2020, khi dịch Covid-19 khiến những lớp tập huấn phải chuyển sang hình thức trực tuyến, vợ chồng chị Vàng Thị Thông, người Tày ở Bản Liền (Lào Cai), bàn nhau mua trả góp một chiếc điện thoại thông minh giá 1,5 triệu đồng. Với nhiều người, đó chỉ là một thiết bị liên lạc thông thường. Nhưng với chị Thông, chiếc điện thoại ấy mở ra một cánh cửa mà trước đó chị chưa từng nghĩ mình có thể bước qua: Học cách làm du lịch, quảng bá sản phẩm, để từng bước tạo sinh kế ngay trên mảnh đất quê hương.

Khi ấy, gia đình chị vẫn chủ yếu sống bằng nghề nông. Ý tưởng làm homestay đến vào cuối năm 2019, khi một dự án phát triển du lịch cộng đồng tìm đến Bản Liền, khảo sát và hướng dẫn người dân cải tạo nhà cửa, học cách đón khách. Chị Vàng Thị Thông nhớ lại: “Điều khiến mình mạnh dạn nhất là dự án không yêu cầu người dân phải nộp một khoản tiền đầu tư nào cả. Mình bàn với chồng rằng cứ học đến đâu, làm đến đó; nếu có khách thì đón, còn chưa có khách, ít nhất nhà cửa cũng được sửa sang gọn gàng, sạch đẹp hơn”.

Được chồng và bố mẹ chồng ủng hộ, chị bắt đầu những ngày vừa làm nông, vừa học nghề du lịch. Điện thoại đã mua, nhưng kỹ năng sử dụng công nghệ vẫn là trở ngại. Chị nhờ một người em lập tài khoản Facebook, Zalo, cài ứng dụng học trực tuyến. Có những buổi học, chị phải đi hơn 3 km để tìm nơi có thể kết nối mạng thuận tiện hơn.

Khó khăn không chỉ nằm ở thiết bị. Sau nhiều năm ít sử dụng tiếng phổ thông, chị Thông có lúc không theo kịp nội dung giảng dạy, phải nghe người hướng dẫn giải thích nhiều lần. Nhưng thay vì bỏ cuộc, chị chỉ nghĩ: Mình học được một, hai phần cũng đã là có thêm kiến thức. Những ngày có lịch học, chị chọn hái chè ở khu vực gần nhà để tiện tham gia lớp trực tuyến. Có khi, điện thoại được bật lên ngay giữa lúc đôi tay vẫn đang thoăn thoắt hái chè. Ban ngày làm nông, tối đến hai vợ chồng tiếp tục sửa sân vườn, cải tạo nhà cửa, có hôm đến nửa đêm hai vợ chồng mới ăn cơm tối. Khoản vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội được dùng để sửa sang nơi ở, chuẩn bị đón khách. Ông bà giúp chăm sóc các cháu để hai vợ chồng có thêm thời gian làm việc.

Sự kiên trì ấy từng bước đem lại kết quả. Trong một khóa học về phát triển kinh doanh, chị Thông được yêu cầu trình bày ý tưởng của mình bằng một bộ slide. Kỹ năng có hạn, ý tưởng của chị, bố cục bài của chị, nhưng hiện thực hóa các nội dung ấy lên bản thuyết trình thì chị vẫn phải nhờ một người quen trong bản hỗ trợ.

Đêm trước cuộc thi, chị tập thuyết trình đến tận ba, bốn giờ sáng. Người phụ nữ vốn không quen trình bày trước đông người đã cố gắng luyện từng phần để bảo đảm thời lượng. Kết quả, chị giành giải nhất, nhận khoản hỗ trợ 20 triệu đồng. Và Bản Liền Pine Homestay ra đời.

7-2070.jpg
Chị Dương Khánh Ly trên đồi trà gia đình. Ảnh: NVCC

Từ khởi nghiệp đến phát triển bền vững

Nếu câu chuyện chị Vàng Thị Thông cho thấy tri thức có thể mở ra một con đường mới, thì hành trình của chị Dương Khánh Ly, Giám đốc Hợp tác xã Nông lâm Nghĩa Tá (Thái Nguyên), lại đặt ra vấn đề lớn hơn: Khi đã có ý tưởng, kiến thức và quyết tâm, phụ nữ cần những gì để phát triển hoạt động kinh tế một cách bền vững?

Tháng 5/2021, sau gần hai năm làm việc cùng Hợp tác xã Hoa Thịnh, với vị trí Phó Giám đốc, phụ trách thu mua và tổ chức dây chuyền sản xuất sấy khô trà hoa vàng, đặc sản Nghĩa Tá,… chị quyết định tách riêng, thành lập Hợp tác xã Nông lâm Nghĩa Tá, tập trung mở rộng phát triển trà hoa vàng. Thời điểm bắt đầu làm riêng, chị phải huy động tiền tích góp, vay mượn người thân để có hơn 100 triệu đồng đầu tư máy sấy, nguyên liệu, bao bì và thuê nhân công. Số vốn không lớn nếu so với nhu cầu đầu tư của một cơ sở sản xuất hiện đại, nhưng với một phụ nữ khởi nghiệp ở vùng cao, đó là khoản tiền gắn với không ít rủi ro.

Bước ngoặt đến khi hợp tác xã của có cơ hội được nhận đầu tư của Hội Liên hiệp Phụ nữ để có thêm điều kiện đầu tư công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến tháng 7/2025, vùng nguyên liệu liên kết của Hợp tác xã Nông lâm Nghĩa Tá đạt khoảng 10 ha; sản phẩm trà hoa vàng được công nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh. Cuối năm 2025, hợp tác xã có 10 thành viên, tạo việc làm thường xuyên cho một số lao động địa phương và tăng số lao động vào mùa cao điểm.

Câu chuyện chị Ly cho thấy: Phụ nữ khởi sự kinh doanh đã khó, duy trì và mở rộng quy mô còn khó hơn. Ở giai đoạn đầu, chị phải dựa nhiều vào nguồn vốn gia đình. Khi sản phẩm có thị trường, nhu cầu đầu tư máy móc, phát triển vùng nguyên liệu, cải tiến bao bì, quảng bá và kết nối tiêu thụ lại tiếp tục đặt ra.

Xét cho cùng, thúc đẩy bình đẳng giới trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận từ khả năng tiếp cận cơ hội phát triển thực chất. Đó là cơ hội được học tập suốt đời, được tiếp cận công nghệ, được vay vốn và được tham gia thị trường trong những điều kiện công bằng.

Cơ hội không chỉ dành cho một người

Quay lại với bản làng của chị Thông, khi trò chuyện với chị, nhiều lần tôi phải thốt lên: “Thật sự khâm phục tinh thần ham học của chị”. Chị cười ngại ngùng, rồi kể với tôi rằng, có lẽ do những ngày còn nhỏ hành trình đi tìm “con chữ” của chị vất vả quá, nên bây giờ được học thêm điều gì mới là chị học hết. Bởi vậy, điều chị mong mỏi nhất hôm nay là hai vợ chồng nỗ lực kiếm tiền, để con gái, con trai mình được học tập trong điều kiện tốt hơn, có nhiều thông tin hơn về trường lớp, ngành nghề cũng như những con đường có thể lựa chọn sau này.

Những năm gần đây, nhiều chương trình đã hướng tới giải quyết vấn đề này. UNICEF Việt Nam phối hợp các đối tác thúc đẩy giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ, hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số vượt qua rào cản ngôn ngữ; phát triển các tài nguyên học tập số và thúc đẩy giáo dục cho những nhóm trẻ em còn chịu nhiều thiệt thòi. Với phụ nữ trưởng thành, nhất là những người đã rời ghế nhà trường từ lâu, những lớp học tương tự càng quan trọng. Họ không chỉ cần được hướng dẫn thao tác trên điện thoại, mà còn cần học cách tìm kiếm thông tin đáng tin cậy, quảng bá sản phẩm, giao dịch an toàn, quản lý tài chính và tiếp cận thị trường.

Tiếp tục với câu chuyện làm kinh tế, nhiều phụ nữ kinh doanh ở Việt Nam vẫn gặp trở ngại trong tiếp cận vốn, công nghệ, thông tin thị trường và các mạng lưới kinh doanh. Không ít cơ sở sản xuất do phụ nữ điều hành có quy mô nhỏ, năng lực tích lũy hạn chế, trong khi khả năng tiếp cận những nguồn lực cần thiết để mở rộng hoạt động chưa tương xứng. Lúc này chính sách hỗ trợ có vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tiễn từ Hợp tác xã Nông lâm Nghĩa Tá cho thấy một khoản hỗ trợ đúng nhu cầu, chẳng hạn đầu tư công nghệ sấy, có thể mang lại tác động cụ thể hơn nhiều so với việc chỉ tổ chức những lớp tập huấn mang tính phong trào.

Nhằm đáp ứng nhu cầu đó, Đề án Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026-2035, được phê duyệt theo Quyết định số 2415/QĐ-TTg ngày 31/10/2025, tiếp tục đặt ra yêu cầu hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực kinh doanh, tiếp cận tín dụng, khoa học-công nghệ, chuyển đổi số và phát triển các mô hình kinh tế tập thể.

Điều đáng quan tâm trong giai đoạn mới là chuyển từ hỗ trợ phụ nữ bắt đầu kinh doanh sang hỗ trợ họ phát triển hoạt động kinh tế có sức cạnh tranh. Với các mô hình kinh tế ở vùng cao, yêu cầu ấy càng cần được đặt trong điều kiện thực tế. Không thể áp dụng máy móc một cách hỗ trợ cho mọi địa bàn, mọi ngành nghề. Có nơi cần vốn và thiết bị chế biến; có nơi cần hạ tầng vận chuyển, kết nối thị trường; có nơi lại cần đào tạo kỹ năng số để sản phẩm địa phương tiếp cận khách hàng rộng hơn. Điều này cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội Phụ nữ địa phương, cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và các đơn vị hỗ trợ phát triển ■

Sự thật sau những con số

  • Phụ nữ chiếm khoảng 50,1% dân số Việt Nam năm 2025.
  • Năm 2025, Phụ nữ dành trung bình 15,21 giờ/tuần, nam giới 9,02 giờ/tuần cho công việc nội trợ và chăm sóc gia đình không được trả công. Tỷ lệ chênh lệch thời gian dành cho công việc chăm sóc không được trả công giữa nam và nữ đang được thu hẹp qua các năm: 2,1 lần (2019); 1,9 lần (2021); 1,8 lần (2022); 1,78 lần (2023); 1,68 lần (2025).
  • Phụ nữ đảm nhiệm hơn 70% khối lượng công việc chăm sóctrong gia đình, gồm chăm sóc trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi.
  • Trong 9 tháng năm 2026, thu nhập bình quân lao động nữ 7,8 triệu đồng/tháng, nam giới 10,2 triệu đồng/tháng.
  • Mục tiêu bình đẳng giới đến năm 2030: Giảm tỷ lệ thời gian làm công việc nội trợ và chăm sóc gia đình không được trả công của phụ nữ xuống còn 1,4 lần so nam giới.

Số liệu được tổng hợp từ các nguồn: Bộ Nội vụ, Cục Thống kê, UN Women Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Đội tuyển karate Việt Nam giành Huy chương vàng nội dung kata đồng đội nữ, ở hai kỳ ASIAD liên tiếp - mẫu hình thành công về đầu tư có trọng điểm. Ảnh: Bùi Lượng

Thay đổi tư duy hay tụt hậu?

Đoàn thể thao Việt Nam vừa khép lại kỳ ASIAD 20 với ba Huy chương vàng, ba Huy chương bạc và 19 Huy chương đồng. Chúng ta đứng thứ 5 Đông Nam Á và xếp hạng 20 châu lục.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.