Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Thành tựu đáng ghi nhận, khoảng cách cần nhìn thẳng

Nhìn lại chặng đường phát triển của đất nước, có thể khẳng định: Bình đẳng giới là một trong những lĩnh vực đạt nhiều kết quả tích cực. Từ quyền học tập, lao động, tham gia hoạt động chính trị đến quyền kinh doanh, sở hữu tài sản và tham gia quản lý xã hội, vị thế của phụ nữ Việt Nam đã có những thay đổi căn bản. Những tiến bộ ấy được tạo dựng trên nền tảng chính sách ngày càng hoàn thiện, sự phát triển kinh tế-xã hội và nhất là nỗ lực vươn lên của nhiều thế hệ phụ nữ. Ngày nay, phụ nữ không chỉ tham gia mà còn đảm nhiệm những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, năng lực quản trị và khả năng đổi mới sáng tạo.

Trong lĩnh vực chính trị, nữ đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031, chiếm 30% tổng số đại biểu. Theo số liệu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2025-2030 đạt 27,42% ở cấp xã và 18,64% ở cấp tỉnh. Những con số này phản ánh sự hiện diện đáng kể của phụ nữ trong hệ thống chính trị.

Ở lĩnh vực kinh tế, phụ nữ làm chủ hơn 20% doanh nghiệp tại Việt Nam. Khảo sát Women in Business 2026 của Grant Thornton ghi nhận phụ nữ đảm nhiệm 38,6% vị trí quản lý cấp cao trong nhóm doanh nghiệp tầm trung được khảo sát. Trong khoa học, công nghệ, UNESCO cho biết phụ nữ chiếm khoảng 37% lực lượng lao động thuộc các ngành liên quan STEM tại Việt Nam.

Vấn đề đặt ra không còn đơn thuần là phụ nữ có được tham gia hay không, mà là họ đang tham gia ở vị trí nào, có bao nhiêu cơ hội phát triển và được trao quyền quyết định đến đâu. Đây là khoảng cách chúng ta cần nhìn nhận thẳng thắn.

Qua thực tiễn công tác, tôi nhận thấy phụ nữ có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm quản lý không phải là hiếm. Tuy nhiên, khi lựa chọn nhân sự vào những vị trí đứng đầu, phụ nữ thường gặp nhiều trở ngại hơn.

Những rào cản không bắt đầu từ nơi bổ nhiệm

Để lý giải nguyên nhân vì sao phụ nữ chưa hiện diện tương xứng ở những vị trí lãnh đạo, không thể chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng của quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm. Những bất lợi về cơ hội có thể đã hình thành từ nhiều năm trước đó.

Tôi từng học chuyên ngành toán trong một khóa có hơn một trăm sinh viên nhưng chỉ có bốn nữ. Điều ấy để lại cho tôi nhiều suy nghĩ. Không phải trẻ em gái thiếu năng lực học toán, khoa học hay kỹ thuật, mà trong nhiều gia đình và nhà trường, việc định hướng nghề nghiệp vẫn chịu ảnh hưởng của những quan niệm truyền thống: Con trai phù hợp với khoa học tự nhiên, con gái nên lựa chọn các lĩnh vực xã hội hoặc công việc chăm sóc.

Năng lực lãnh đạo không tự nhiên xuất hiện khi một người được bổ nhiệm. Nó hình thành qua quá trình học tập, trải nghiệm, tranh luận, đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nếu trẻ em gái ít được tạo điều kiện rèn luyện những kỹ năng ấy, đến khi trưởng thành, các em có thể phải nỗ lực nhiều hơn để vượt qua những giới hạn đã được hình thành từ sớm.

Bên cạnh giáo dục, trách nhiệm chăm sóc gia đình vẫn là một rào cản đáng kể. Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố năm 2025, lao động nữ phi chính thức ở Việt Nam dành trung bình 4,34 giờ mỗi ngày cho công việc chăm sóc không được trả công, trong khi nam giới cùng nhóm dành 2,66 giờ. Sự chênh lệch thời gian này tác động trực tiếp đến cơ hội phát triển nghề nghiệp. Một người phải dành nhiều giờ mỗi ngày cho chăm sóc gia đình sẽ khó tham gia các khóa đào tạo dài ngày, nhận nhiệm vụ đòi hỏi thường xuyên đi công tác hoặc dành thời gian mở rộng hoạt động kinh doanh.

Chúng ta từng quen thuộc với yêu cầu phụ nữ phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Đây có thể là sự ghi nhận những đóng góp của phụ nữ, nhưng nếu hiểu không đúng, nó sẽ trở thành áp lực buộc phụ nữ phải đồng thời gánh vác trọn vẹn cả hai trách nhiệm.

Ở góc độ quản lý, một rào cản khác nằm trong chính cách thức tổ chức công việc và phát triển nguồn nhân lực. Không ít phụ nữ có chuyên môn tốt nhưng chưa được giao những nhiệm vụ đủ quan trọng để chứng minh năng lực. Trong khi đó, các công việc mang tính hỗ trợ, hậu cần hoặc chăm lo tập thể vẫn thường được mặc nhiên giao cho cán bộ nữ. Nếu cơ hội rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm quản lý và thể hiện năng lực không được phân bổ công bằng, thì đến thời điểm xem xét bổ nhiệm, sự chênh lệch về hồ sơ công tác lại có thể trở thành lý do khiến phụ nữ tiếp tục ít được lựa chọn.

Bởi vậy, không thể chỉ yêu cầu phụ nữ tự tin hơn, mạnh dạn hơn hay cố gắng nhiều hơn. Trách nhiệm còn thuộc về người đứng đầu cơ quan, tổ chức và những người trực tiếp quyết định việc đào tạo, quy hoạch, sử dụng cán bộ.

Từ cam kết đến thay đổi thực chất

Việt Nam đã có nền tảng pháp lý quan trọng để thúc đẩy bình đẳng giới, từ Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới đến Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 và các chương trình hỗ trợ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, phát triển kinh tế.

Vấn đề của giai đoạn tới không chỉ là ban hành thêm chính sách, mà phải nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện và khả năng đánh giá kết quả.

Trước hết, cần đưa mục tiêu bình đẳng giới vào thực chất công tác cán bộ. Việc bảo đảm tỷ lệ nữ trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm là cần thiết, nhưng không nên chỉ dừng ở những chỉ tiêu mang tính hình thức. Cần theo dõi cả tỷ lệ nữ giữ vị trí đứng đầu, tỷ lệ được giao phụ trách những lĩnh vực trọng yếu, cơ hội tham gia đào tạo, luân chuyển và khả năng tiếp cận những vị trí có thẩm quyền quyết định.

Đặc biệt, trong quá trình vận hành chính quyền hai cấp, các địa phương cần rà soát việc bố trí, sử dụng cán bộ nữ sau sắp xếp. Cơ chế đánh giá phải dựa trên năng lực, kết quả công việc và trách nhiệm, đồng thời nhận diện, khắc phục những bất lợi về cơ hội mà phụ nữ có thể gặp phải.

Thứ hai, phải xây dựng nguồn nhân lực nữ từ sớm. Gia đình và nhà trường cần khuyến khích trẻ em gái phát triển toàn diện, không giới hạn lựa chọn môn học, nghề nghiệp hay hoạt động xã hội theo những khuôn mẫu giới. Trong các cơ quan, đơn vị, cán bộ nữ trẻ cần được giao nhiệm vụ chuyên môn quan trọng, có cơ hội tham gia quản lý dự án, phát biểu, đề xuất sáng kiến và chịu trách nhiệm về kết quả công việc. Các chương trình cố vấn, đào tạo kỹ năng lãnh đạo và kết nối mạng lưới nữ cán bộ cần được triển khai thường xuyên, gắn với yêu cầu công việc cụ thể.

Thứ ba, thúc đẩy quyền năng kinh tế của phụ nữ phải trở thành một phần quan trọng của chiến lược phát triển.

Đề án Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026-2035 được phê duyệt tại Quyết định 2415/QĐ-TTg ngày 31/10/2025 đặt ra những mục tiêu cụ thể về nâng cao năng lực kinh doanh, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và phát triển doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.

Điều quan trọng là doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ có thể duy trì hoạt động, mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ và tham gia những ngành có giá trị gia tăng cao. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, phụ nữ cần được tiếp cận bình đẳng với nguồn vốn, tri thức, hạ tầng số và các mạng lưới
kinh doanh.

Thứ tư, cần quan tâm hơn đến những điều kiện xã hội giúp phụ nữ phát triển nghề nghiệp bền vững. Dịch vụ chăm sóc trẻ em, hỗ trợ chăm sóc người phụ thuộc, môi trường làm việc thân thiện với gia đình và chính sách khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm chăm sóc đều có ý nghĩa trực tiếp đối với cơ hội của phụ nữ.

Cùng với đó, bộ máy thực thi chính sách bình đẳng giới phải được củng cố về nhân lực, chuyên môn và nguồn lực tài chính. Khi cán bộ phụ trách chủ yếu làm việc kiêm nhiệm, thiếu thời gian và công cụ theo dõi, những mục tiêu dù đúng đắn cũng khó được chuyển hóa thành kết quả thực tế.

Cuối cùng, chính phụ nữ cần tiếp tục chủ động học tập, nâng cao năng lực, mạnh dạn thể hiện quan điểm và xác định con đường phát triển phù hợp với nguyện vọng của mình. Tuy nhiên, không nên biến yêu cầu tự nỗ lực thành lý do để giảm nhẹ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tạo lập cơ hội công bằng.

Trong giai đoạn phát triển mới, đất nước cần phát huy đầy đủ trí tuệ, năng lực và sức sáng tạo của mọi người dân. Để làm được điều đó, bình đẳng giới phải được thể hiện bằng những cơ hội thực chất, từ lớp học, gia đình đến cơ quan công quyền, doanh nghiệp và các lĩnh vực khoa học, công nghệ ■

Bình đẳng không có nghĩa là ưu tiên một người chỉ vì giới tính, mà là bảo đảm mọi người có điều kiện công bằng để phát huy năng lực và được đánh giá đúng với đóng góp của mình.

-------------
(*) Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội trước đây), nguyên Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Đội tuyển karate Việt Nam giành Huy chương vàng nội dung kata đồng đội nữ, ở hai kỳ ASIAD liên tiếp - mẫu hình thành công về đầu tư có trọng điểm. Ảnh: Bùi Lượng

Thay đổi tư duy hay tụt hậu?

Đoàn thể thao Việt Nam vừa khép lại kỳ ASIAD 20 với ba Huy chương vàng, ba Huy chương bạc và 19 Huy chương đồng. Chúng ta đứng thứ 5 Đông Nam Á và xếp hạng 20 châu lục.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.