Khoảng trống phim hoạt hình Việt Nam

Lâu nay, phim hoạt hình Việt Nam xuất hiện khá thưa thớt ngoài rạp cũng như trên màn ảnh nhỏ. Có lẽ do hoạt hình trong nước “cung” không đủ “cầu”, cho nên các sản phẩm hoạt hình nước ngoài được ưa chuộng, chiếm ưu thế trên thị trường.

Cảnh trong phim “Người con của rồng” - phim hoạt hình 3D đầu tiên của Việt nam.
Cảnh trong phim “Người con của rồng” - phim hoạt hình 3D đầu tiên của Việt nam.

Qua rồi thời vàng son

Những năm đầu thập niên 1960, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông - Nam Á có phim hoạt hình, với sự ra đời của phim hoạt hình đen trắng Đáng đời thằng Cáo. Một số phim có chất lượng đã đoạt giải cao trong các Liên hoan phim (LHP) quốc gia và quốc tế như Mèo con, giải Bạc tại LHP Ru-ma-ni 1966, bằng khen tại LHP Phơ-răng-phuốc (Đức) năm 1967; Chuyện Ông Gióng với giải Vàng tại LHP Lai-xích (Đức) năm 1971, bằng khen tại LHP Mát-xcơ-va 1971… Tuy nhiên, đến nay, hoạt hình Việt Nam xếp ở vị trí rất thấp trong ngành công nghiệp hoạt hình thế giới.

Mỗi năm, riêng Hãng phim Hoạt hình Việt Nam được đầu tư khoảng 10 đến 15 phim, nhưng số phim ra rạp ít ỏi. Các kênh truyền hình thì không mặn mà với phim hoạt hình Việt Nam. Quảng cáo, tiếp thị chưa được xem trọng, chưa bài bản, cho nên phim ra rạp ít được người xem chú ý.

Cần thừa nhận rằng, nội dung phim hoạt hình Việt Nam dường như vẫn đi theo lối mòn, đóng khung trong thời lượng, với những nhân vật cổ điển, đơn giản, ít đột phá như các loài động vật: khỉ, ếch, chó, mèo, gà, hay các nhân vật lịch sử được mô tả đơn thuần, thiếu cá tính. Một trong số ít phim có thời lượng đủ dài để ra rạp là Hào khí Thăng Long (60 phút), sử dụng công nghệ 3D tiên tiến, nhưng cách truyền tải theo kiểu cũ, lời thoại dài dòng, vẫn tạo cảm giác khô khan, nhàm chán, khó thu hút khán giả.

Hiện tại, lực lượng sáng tác kịch bản phim hoạt hình quá mỏng, thường là các tác giả văn học hoặc lĩnh vực khác lấn sân sang, hiếm có ai đam mê và theo đuổi dài hơi. Nỗi niềm này khiến nhiều người chỉ còn biết ngậm ngùi tiếc nhớ đội ngũ làm phim hoạt hình tài năng và tâm huyết một thời như nghệ sĩ Trương Qua, Hồ Quảng, Mạnh Lân, Mai Long, Nghiêm Dung...

Nỗi buồn phim hoạt hình Việt

Ông Phạm Ngọc Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Hãng phim Hoạt hình Việt Nam thừa nhận: Kịch bản còn thiếu, yếu là nguyên nhân dẫn đến nội dung phim ít tính giải trí, nặng tính giáo điều, cứng nhắc, xa rời thị hiếu của trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cũng là bài toán khó, bởi để sản xuất hoàn chỉnh một bộ phim hoạt hình cần từ vài trăm triệu đồng cho đến tiền tỷ. Trong khi đó, nguy cơ bị sao chép, vi phạm bản quyền là khá cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế.

Về công nghệ làm phim, các hãng phim đều bắt kịp xu hướng công nghệ mới, được trang bị máy móc, thiết bị đồng bộ. Thế nhưng, yếu tố mang tính quyết định thành công của một bộ phim vẫn là nội dung hay và cách thức thể hiện ấn tượng, lại là điều chúng ta đang thiếu. Đạo diễn, họa sĩ Trịnh Lâm Tùng, người đoạt giải Cánh Diều Vàng năm 2012 cho phim hoạt hình xuất sắc Càng to càng nhỏ, từng chia sẻ: “Việc đào tạo nguồn nhân lực làm phim hoạt hình là khá khó, người làm phim phải có thời gian rèn luyện dài, đòi hỏi nhiều kỹ năng, nhưng ngược lại thu nhập lại không cao, cho nên ít ai sẵn sàng dấn thân vào nghề”.

Trong khi hoạt hình Việt Nam vẫn gần như “giậm chân tại chỗ” thì các sản phẩm hoạt hình nước ngoài đang chinh phục cả trẻ em lẫn người lớn...

Thay đổi để tìm chỗ đứng

Giải pháp được nhiều người trong giới kỳ vọng là thực hiện cổ phần hóa, xã hội hóa, nhằm mang lại nguồn kinh phí dồi dào hơn và những chiến lược kinh doanh, sản xuất phim mới mẻ, phù hợp với nhu cầu khán giả. Hãng phim Hoạt hình Việt Nam dự kiến cổ phần hóa vào cuối năm nay, đầu tư cho chùm phim dài tập thay vì phim lẻ bởi sẽ tận dụng được tạo hình, tái sử dụng được phông cảnh, tập trung xây dựng hình tượng nhân vật điển hình, thuần Việt.

Bên cạnh đó, để mở rộng nguồn kịch bản, rất cần những hoạt động cụ thể như tổ chức các cuộc thi, trại sáng tác, điều tra xã hội học về tâm lý, nhu cầu của các em nhỏ. Có thể mạnh dạn chuyển thể các tác phẩm văn học sang phim hoạt hình, từ truyện cổ dân gian hay truyện của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, hoặc các bộ truyện tranh Việt đang được yêu thích…

Về phương thức phát hành, cần chủ động tìm lối đi mới, chẳng hạn như đưa lên in-tơ-nét, phổ biến trên truyền hình. Mới đây, Đài Truyền hình Việt Nam thông báo sẽ phát sóng bộ phim hoạt hình Hào khí ngàn năm trên kênh VTV1 bắt đầu từ tháng 10. Mỗi tập phim có thời lượng năm phút gắn với một nhân vật, một sự kiện hay một tích truyện trong lịch sử suốt từ thời Vua Hùng dựng nước. Hoạt hình Việt Nam cũng cần sự “tiếp sức” của ngành điện ảnh, với những chính sách, định hướng nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các đạo diễn trẻ, các nhà làm phim tư nhân.

Phim hoạt hình Việt Nam đang để lại một khoảng trống lớn khó lấp đầy, nhưng không có nghĩa là khán giả quay lưng. Vào dịp hè, khá nhiều trường lớp, phụ huynh vẫn cho con em đến xem ở Rạp Thánh Gióng ở số 7 Trần Phú (Hà Nội), rạp chuyên chiếu phim hoạt hình Việt Nam. Trong các đợt chiếu phim lưu động tại các tỉnh, thành phố, phim hoạt hình cũng nhận được sự thích thú, quan tâm của các em nhỏ. Trước sự mong mỏi, chờ đợi của khán giả nước nhà, hoạt hình Việt Nam nâng cao chất lượng phim, tăng tính giải trí, phục vụ tốt thị trường trong nước rồi mới mong đến làm phim có lãi hay xuất khẩu phim ra nước ngoài, như các nước trong khu vực Đông - Nam Á đã làm được.

Vấn đề hoạch định đúng đường đi, thay đổi phương pháp sáng tác, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của khán giả trẻ em và cả người lớn mang tính quyết định đối với sự phát triển của phim hoạt hình. Tất nhiên thay đổi không có nghĩa là tìm kiếm, học tập, bắt chước cách làm phim hoạt hình của nước ngoài mà là tạo ra một hướng đi riêng, một phong cách làm phim giàu tính sáng tạo để có được những tác phẩm điện ảnh hoạt hình độc đáo, phù hợp nhu cầu, khả năng tiếp nhận của khán giả.

(Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần)

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.