Hội thảo là diễn đàn trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và thảo luận các cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường đại học Văn hóa Hà Nội nhấn mạnh: Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo ngày càng sâu rộng, nguồn nhân lực văn hóa đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối diện những yêu cầu mới.
Đối với nhà trường, tăng cường liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và thực tiễn xã hội là định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa. Nhà trường mong muốn hội thảo vừa là diễn đàn trao đổi học thuật vừa mở ra cơ hội hợp tác cụ thể trong xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tri thức, tổ chức thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp, phát triển dự án sáng tạo, kết nối mạng lưới chuyên gia trong nước và quốc tế.
Trong tiến trình phát triển đất nước ở kỷ nguyên mới, văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững. Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, công nghệ số cùng quá trình hội nhập quốc tế đang làm thay đổi phương thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận sản phẩm văn hóa, cơ cấu nghề nghiệp, chuẩn năng lực và phương thức tổ chức lao động.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển nguồn nhân lực văn hóa, chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng của cơ sở giáo dục sang phát triển năng lực đáp ứng nhu cầu xã hội, đặc thù nghề nghiệp và các giá trị văn hóa. Trên tinh thần này, hội thảo tập trung nhận diện những vấn đề lý luận và thực tiễn của mô hình hợp tác 3 bên, trao đổi kinh nghiệm trong nước và quốc tế, đề xuất định hướng, cơ chế và giải pháp có khả năng triển khai.
Gợi mở các vấn đề thảo luận, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn cho biết: Nguồn nhân lực văn hóa có tính liên ngành và đa dạng, bao gồm đội ngũ quản lý văn hóa, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản, thư viện-thông tin, nghệ thuật biểu diễn, truyền thông, du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện và các ngành nghề sáng tạo.
Bên cạnh tri thức chuyên môn, người lao động cần năng lực số, kỹ năng sáng tạo, tư duy liên ngành, ngoại ngữ, khả năng thích ứng với môi trường nghề nghiệp và ý thức bảo vệ các giá trị văn hóa. Đặc biệt, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới đòi hỏi năng lực sử dụng công nghệ có trách nhiệm, tôn trọng bản quyền, tính xác thực của di sản và lợi ích cộng đồng.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn, những yêu cầu này vượt ra ngoài khả năng đáp ứng riêng lẻ của từng chủ thể. Vì vậy, nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường thể chế, hoạch định chính sách, bảo đảm điều kiện phát triển và điều tiết lợi ích công. Nhà trường đảm nhiệm đào tạo, nghiên cứu, phát triển tri thức và bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp. Doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động cung cấp tín hiệu về nhu cầu nhân lực, môi trường thực hành, nguồn lực và cơ hội chuyển hóa tri thức thành giá trị. Hiệu quả hợp tác phụ thuộc vào mức độ thống nhất giữa 3 chủ thể trong mục tiêu, trách nhiệm, nguồn lực và cơ chế đánh giá kết quả.
Liên kết này không chỉ dừng lại ở các thỏa thuận mang tính hình thức hoặc hoạt động thực tập ngắn hạn. Vấn đề cốt lõi cần hình thành quan hệ hợp tác thực chất trong đó các bên cùng tham gia xác định nhu cầu, thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, sử dụng nhân lực và đánh giá tác động xã hội. Đối với lĩnh vực văn hóa, hiệu quả hợp tác cần được xem xét trên 3 phương diện: chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tạo ra giá trị kinh tế-xã hội và công tác gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa.
Hội thảo tiếp nhận 187 tham luận trong đó có 8 bài của học giả quốc tế. Các đại biểu tập trung thảo luận 3 trục trọng tâm: mô hình và cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa; đổi mới chương trình, phương thức đào tạo nhân lực văn hóa gắn với thực tiễn nghề nghiệp và thị trường lao động; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng và khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa.
Từ các vấn đề trên, các tham luận và ý kiến trao đổi đi sâu vào 4 nội dung có tính định hướng.
Thứ nhất, những rào cản thể chế đang hạn chế hiệu quả hợp tác 3 bên và công cụ chính sách để tháo gỡ?
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế nhận diện, dự báo và chia sẻ nhu cầu nhân lực để hoạt động đào tạo gắn chặt hơn với thực tiễn?
Thứ ba, những mô hình đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và khởi nghiệp đã chứng minh khả năng triển khai với các điều kiện bảo đảm cụ thể?
Thứ tư, hiệu quả hợp tác cần được đo lường bằng những chỉ báo về năng lực người học, kết quả sử dụng lao động, sản phẩm sáng tạo và đóng góp cho phát triển văn hóa?
Trên cơ sở trao đổi, hội thảo đề xuất các nhóm khuyến nghị có tính khả thi gồm tăng cường cơ chế phối hợp và đặt hàng theo nhu cầu; phát triển chương trình đào tạo có sự tham gia thiết kế của đơn vị sử dụng lao động; mở rộng các dự án nghiên cứu, thực hành và đổi mới sáng tạo với sự tham gia của nhiều chủ thể; xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá và chia sẻ kết quả hợp tác. Kinh nghiệm quốc tế cần được tham khảo trên cơ sở phù hợp với điều kiện thể chế, văn hóa và nguồn lực của Việt Nam, tránh sao chép mô hình một cách máy móc.
(Ảnh: Ban Tổ chức cung cấp)
Hội thảo cũng cung cấp thêm luận cứ khoa học, sáng kiến và khuyến nghị phục vụ phát triển mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Những trao đổi tại hội thảo đặt cơ sở cho quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển con người, phát triển công nghiệp văn hóa và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới.
Trong khuôn khổ hội thảo, Trường đại học Văn hóa Hà Nội và các đối tác tổ chức lễ ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm tạo bước đột phá và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.