3 NGÀY TRƯỚC THẢM HỌA...

Hơn 100 con người đủ mọi lứa tuổi (trừ con nít) đến từ miền bắc, miền nam Việt Nam, từ nước Mỹ xa xôi và châu Âu không thật gần... tập kết tại Kathmandu chuẩn bị cho chuyến hành hương mà đích đến cuối cùng là đi vòng quanh (kora) núi thiêng Kailash trên đất Tibet (Tây Tạng, thuộc Trung Quốc).

Người trẻ nhất trạc tuổi đôi mươi, và người già nhất đã ngoại bát tuần, có mặt đúng lịch trình vào ngày 23/8/2026.

Để làm quen với nhau và cũng là tập dượt cho những bước chân kora nhuần nhuyễn, khoẻ khoắn của chuyến đi bộ dài vài chục km, mọi người đã ghé thăm thị trấn cổ Dhulikhel (hay còn gọi là Dukheli) nằm ở quận Kavrepalanchok, cách thủ đô Kathmandu của Nepal khoảng 30km về phía đông, gần nơi tập kết của cả đoàn hành hương.

Núi Kailash - Viên ngọc Tuyết, cao 6.656m (ghi theo mốc tại Darchen, nơi chuẩn bị cho chuyến kora của hầu hết các đoàn hành hương) - là ngọn núi đầu tiên trong bốn ngọn núi thánh ở Tây Tạng, và đây cũng là ngọn núi thánh chung của bốn nền tôn giáo gồm Bon (hay còn gọi là Bôn giáo, tôn giáo bản địa của người Tây Tạng), Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo và Phật giáo.

Núi Kailash nằm ở quận Pulan, Tây Tạng, Trung Quốc, trông giống như một kim tự tháp và được bao phủ bởi ánh sáng quanh năm. Ngọn núi linh thiêng này từ xa xưa đã là nơi mà những người hành hương và thám hiểm mong muốn đến được, nhưng vẫn chưa có ai leo lên đến đỉnh.

3 NGÀY TRƯỚC THẢM HỌA...

Hơn 100 con người đủ mọi lứa tuổi (trừ con nít) đến từ miền bắc, miền nam Việt Nam, từ nước Mỹ xa xôi và châu Âu không thật gần... tập kết tại Kathmandu chuẩn bị cho chuyến hành hương mà đích đến cuối cùng là đi vòng quanh (kora) núi thiêng Kailash trên đất Tibet (Tây Tạng, thuộc Trung Quốc).

Người trẻ nhất trạc tuổi đôi mươi, và người già nhất đã ngoại bát tuần, có mặt đúng lịch trình vào ngày 23/8/2026.

Để làm quen với nhau và cũng là tập dượt cho những bước chân kora nhuần nhuyễn, khoẻ khoắn của chuyến đi bộ dài vài chục km, mọi người đã ghé thăm thị trấn cổ Dhulikhel (hay còn gọi là Dukheli) nằm ở quận Kavrepalanchok, cách thủ đô Kathmandu của Nepal khoảng 30km về phía đông, gần nơi tập kết của cả đoàn hành hương.

Núi Kailash - Viên ngọc Tuyết, cao 6.656m (ghi theo mốc tại Darchen, nơi chuẩn bị cho chuyến kora của hầu hết các đoàn hành hương) - là ngọn núi đầu tiên trong bốn ngọn núi thánh ở Tây Tạng, và đây cũng là ngọn núi thánh chung của bốn nền tôn giáo gồm Bon (hay còn gọi là Bôn giáo, tôn giáo bản địa của người Tây Tạng), Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo và Phật giáo.

Núi Kailash nằm ở quận Pulan, Tây Tạng, Trung Quốc, trông giống như một kim tự tháp và được bao phủ bởi ánh sáng quanh năm. Ngọn núi linh thiêng này từ xa xưa đã là nơi mà những người hành hương và thám hiểm mong muốn đến được, nhưng vẫn chưa có ai leo lên đến đỉnh.

Dhulikhel nằm ở độ cao khoảng 1.550m so với mực nước biển với khoảng 10.000 người sinh sống, chủ yếu là người Newar. Thị trấn này được hình thành hơn 500 năm trước, từng là điểm giao thương quan trọng trên tuyến đường thương mại nối liền Nepal và Tây Tạng.

Khu phố cổ nằm ở phía nam thị trấn nổi bật với các ngôi nhà gạch đỏ cổ kính, cửa ra vào và cửa sổ bằng gỗ chạm trổ hoa văn tinh xảo. Quá khứ có vẻ lẫy lừng, nhưng hiện tại khá tiêu điều. Những khung cửa xiêu vẹo, những căn phòng bỏ hoang chỉ trực sụp đổ. Dân vẫn sống như họ đã từng sống, nhưng trông những gương mặt đầy lo toan, vất vả mà thấy chạnh lòng. Giải pháp cải thiện cuộc sống cho cư dân bản địa có lẽ nên tập trung vào chỉnh trang du lịch địa phương?

Từ Dhulikhel, bạn có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh hơn 20 đỉnh núi phủ tuyết trắng của dãy Himalaya như Annapurna, Langtang Lirung hay Gauri Shankar. Trekking nhẹ nhàng và hàng trăm bậc đá lên ngôi đền Hindu cổ và gần tu viện Phật giáo linh thiêng Namo Buddha là một trải nghiệm cần thiết cho chuyến hành hương này.

Đoàn chúng tôi có dịp đi thăm viếng Bảo tháp Boudhanath ở Nepal. Ẩn mình khỏi khói bụi và sự nhộn nhịp của thủ đô Kathmandu (Nepal), bảo tháp Boudhanath ở vùng ngoại ô phía đông bắc của thành phố là biểu tượng cho tâm linh, văn hóa và di sản của đất nước. Còn được gọi là Boudha stupa - là một trong những địa điểm Phật giáo Tây Tạng lớn nhất và linh thiêng nhất bên ngoài Tây Tạng, thu hút khách hành hương, khách du lịch và Phật tử từ nhiều nơi trên thế giới.

Năm 1979, bảo tháp Boudhanath được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Với vô số tu viện bao quanh, Boudhanath là trung tâm của Phật giáo Tây Tạng ở Nepal. Bảo tháp từng nằm trên tuyến đường thương mại cổ xưa đến Tây Tạng và chính tại đây, các thương nhân Tây Tạng đã nghỉ ngơi và cầu nguyện trong nhiều thế kỷ.

Tháp hình cầu đứng ở độ cao 36M và có đường kính 120m, bảo tháp Boudhanath có hình dạng giống như một mạn-đà-la, một cấu trúc hình học đại diện cho vũ trụ trong biểu tượng của Ấn Độ giáo và Phật giáo. Boudhanath cũng giàu tính biểu tượng vì mọi phần của bảo tháp đều mang ý nghĩa nhất định.

  • Cấu trúc mạn-đà-la: Tượng trưng cho lời nhắc nhở về con đường hướng tới giác ngộ của Đức Phật.
  • Nền tháp với 3 bậc thềm: Đại diện cho Trái đất, và cũng tượng trưng cho tam bảo là Phật, Pháp và Tăng. Phần nền của Boudhanath được trang trí bằng 108 hình ảnh Phật A Di Dà, tượng trưng cho 108 ham muốn trần tục mà con người phải vượt qua để đạt được giác ngộ. Bảo tháp cũng được bao quanh bởi một bức tường gạch với 147 hốc tường, mỗi hốc đều có tượng Phật và khắc các câu thần chú.
  • Mái vòm: Biểu tượng của vũ trụ hay bình báu (treasure vase). Bình báu là một trong tám biểu tượng may mắn trong Phật giáo Đại thừa, còn gọi là "cát tường bát bảo".

Tháp vuông (harmika): Tượng trưng cho Bát Chánh Đạo - con đường chân chính chia làm tám chi, là giáo lý căn bản được nhắc đến trong Đạo đế (một trong bốn chân lý của Tứ Diệu đế). Bát Chánh Đạo gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.

Mũi: Tượng trưng cho Niết bàn. Nó cũng được cho là đại diện cho số 1 trong ký tự Nepal, tượng trưng cho sự thống nhất và con đường duy nhất để đạt được giác ngộ.

Mắt: Bốn cặp mắt khổng lồ nhìn ra bốn phía của tháp chính là mắt của Đức Phật và chúng tượng trưng cho trí tuệ, cho khả năng nhìn thấy tất cả của Đức Phật.

  • 13 bậc tháp: Có 13 giai đoạn mà con người cần phải vượt qua để đạt được giác ngộ và 13 bậc tháp là biểu tượng của những giai đoạn đó. Hình dạng chung tạo thành 13 bậc tháp là hình tam giác, tượng trưng cho lửa.

Hoa sen: Tượng trưng cho sự phát triển bản thân, giác ngộ và thanh khiết vì nó sống trong bùn, mọc lên từ nước bẩn nhưng vẫn đẹp. Hoa sen đại diện cho những bậc giác ngộ như chính Đức Phật và Bồ Tát. Đỉnh của bảo tháp mang biểu tượng của núi Tu Di (Kailash), được mệnh danh là vua của các ngọn núi.

  • Cờ: Những lá cờ tung bay trong gió được cho rằng mang theo những câu thần chú và những lời cầu nguyện. Cờ có 5 màu với các ý nghĩa riêng: màu trắng (tượng trưng cho sự thuần khiết, nguyên thủy), màu xanh là (tượng trưng cho hòa bình, bảo vệ khỏi bị tổn hại), màu vàng (tượng trưng cho vẻ đẹp, sự giàu có), màu xanh dương (tượng trưng cho tri thức, thức tỉnh/giác ngộ) và màu đỏ (tượng trưng cho tình yêu, lòng trắc ẩn).
  • Ô: Được coi là vật hộ mệnh của tam bảo. Ngay phía trên chiếc ô là một mái che được cho là tượng trưng cho không khí.
  • Đỉnh tháp: Là biểu tượng của núi Tu Di, tên của một ngọn núi trong truyền thuyết thần thoại cổ Ấn Độ, còn gọi là Tu Di Lâu. Theo quan niệm Phật giáo, núi Tu Di là vua của các ngọn núi, là trung tâm của thế giới, là vũ trụ quan của Phật giáo.

Trận động đất vào tháng 4/2015 làm hư hại nặng nề bảo tháp. Việc xây dựng lại bắt đầu vào ngày 03/11/2015, do Ủy ban Phát triển Khu vực Boudhanath chịu trách nhiệm, bên cạnh kinh phí được quyên góp bởi các nhóm Phật tử và tình nguyện viên. Thủ tướng Pushpa Kamal Dahal đã chính thức khánh thành bảo tháp mới được xây dựng vào ngày 22/11/2016.

BUỔI SÁNG XẢY RA THẢM HOẠ 26/8/2026

Như thường lệ, đoàn chúng tôi dạy sớm và chuẩn bị cho ngày đầu tiên dã ngoại về hướng ‘thành phố bị lãng quên Bandipur’. Theo kế hoạch, đoàn xe 4 chiếc chở hơn 100 con người sẽ xuất phát lúc 7 giờ 00 phút (giờ địa phương, chênh lệch 1 giờ 15 phút sớm hơn giờ Hà Nội) trực chỉ Bandipur. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, có thể do Cao Xanh sắp xếp, hay được Đức Phật độ, đoàn đã xuất phát muộn hơn 1 giờ đồng hồ.

Thảm hoạ lũ bùn xảy ra vào khoảng gần 8 giờ 40 phút (giờ Nepal) sáng 26/8/2026. Thoạt tiên, đoàn chúng tôi không biết đến tin tức về thảm hoạ. Chỉ biết đang trên đường đi thì tin đến sớm nhất có lẽ từ các lái xe và người bản địa dẫn đường. Đoàn xe đã quay đầu trở lại hướng Kathmandu.

Ngay trong buổi sang hôm đó, đoàn đã ghé thăm cây cầu treo Rani Jhula (hay Bageshwori Nagarkot) dài 250m, nằm tại An Danda, Bastola Gaun trên cung đường đi bộ dã ngoại dẫn đến Nagarkot, Nepal trong khi chờ đợi những tin tức cập nhật về thảm hoạ vừa xảy ra.

Sau này nhìn lại mới thấy thật may mắn cho đoàn hành hương, vì hoặc chúng tôi đi qua sớm trước khi lũ bùn ập tới (khu vực vòng khuyên màu xanh trên bản đồ kèm theo) thì sẽ bị cô lập ở Bandipur và mọi kế hoặc hành hương sẽ đổ vỡ hoàn toàn do không còn đường quay lui; hoặc tệ hại hơn, tất cả sẽ bị cuốn trong vòng xoáy dữ dội của lũ bùn. Không dám nghĩ tới nữa...

Cây cầu Rani Jhula bắc qua thung lũng và hẻm núi tuyệt đẹp, cách Kathmandu khoảng 28km, thuộc huyện Bhaktapur. Bao quanh bởi những cánh rừng thông xanh tốt.

Tượng Kailashnath Mahadev tại Sanga, Nepal, cao 43,5m - là một trong những bức tượng thần Shiva cao nhất thế giới, nằm ở ranh giới giữa hai quận Bhaktapur và Kavrepalanchok, được làm bằng đồng, kẽm, bê-tông và thép.

Tiếp theo là những ngày chờ đợi trong lo lắng phấp phỏng vì phía trước bất định. Bởi có thể, chính quyền Tây Tạng sẽ đóng cửa biên giới Tây Tạng - Nepal do hậu quả của thảm hoạ lũ bùn khủng khiếp ở cửa khẩu Gyirong và các cửa khẩu khác cũng chưa đảm bảo thực sự an toàn. Suốt những ngày này, cuộc sống của người dân Nepal ở thủ đô Kathmandu có vẻ vẫn diễn ra bình thường, duy chỉ thấy trực thăng bay đi bay lại thường xuyên trên bầu trời hướng về vùng thảm hoạ.

Bên cạnh đó, người thân khi biết tin cũng thường xuyên liên lạc hỏi thăm, thậm chí đề nghị dừng chuyến đi và quay về nhà để đảm bảo an toàn cá nhân cũng là một áp lực không hề nhẹ với các thành viên trong đoàn.

Chúng tôi đi thăm một làng người bản địa và thắp những ngọn nến cầu nguyện cho những nạn nhân của thảm hoạ vừa qua.

NGỌN NẾN TRONG GIÓ

Praying for the victims of the flood disaster in Nepal and Tibet, Aug. 26, 2026 “... it seems to me you lived your life
Like a candle in the wind...”

Cầu nguyện cho những nạn nhân của vụ lở núi, lũ quét thảm hoạ ở Nepal và Tibet ngày 26/8/2026.

THẢM HOẠ

Nếu chúng tôi khởi hành sớm vài giờ
Hoặc thác lũ đổ về lúc trưa đứng bóng
Thì nạn nhân có thể là chính chúng tôi
Khoảng cách giữa đời và ban thờ rõ ngắn
Nếu chúng tôi khởi hành sớm vài giờ
Thì khỏi nói, còn đâu mà viết vội
Vài dòng tưởng niệm những nạn nhân
Của trận lở núi kinh hoàng hai-sáu-tám

(Kathmandu, Aug. 28, 2026)

Tin tức đưa về là một số đoàn khác bị tạm dừng kể cả đi bằng đường hàng không càng làm cho chúng tôi nóng ruột hơn.

Cho đến cuối ngày 29/8/2026. Đoàn chúng tôi nhận được tín hiệu cho qua cửa khẩu Zhangmu, sẽ xuất phát từ tinh mơ ngày 30/8/2026.

Chiều muộn, trời đầy mây mù bổng ửng hồng, một cầu vồng xuất hiện phía đông như báo hiệu một điềm lành khiến ai nấy cũng đều phấn chấn cho kế hoạch ngày mai. Dãy Himalaya hùng vĩ chìm vào trong sương mù xa xa...

VƯỢT KHẨU ZHANGMU VÀO ĐẤT TÂY TẠNG

Sau một hành trình hơi hơi khó khăn, một chút lội bộ và nhúng bùn do đường đi vẫn bị xói lở mà xe khách không vượt được. Cuối cùng cũng đến cửa khẩu Zhangmu vào Tibet.

Nắng đẹp, đôi chút lất phất mưa. Nghe rào rào thác đổ cũng vui tai.

Thủ tục xuất cảnh khỏi Nepal không có gì phức tạp, duy phải chờ đợi một chút. Cũng như vậy, nhập cảnh vào Tây Tạng có quy củ hơn do cơ sở vật chất và con người bên đó ổn hơn phía bên kia.

ZHANGMU đến TINGRI

Từ cao độ 1.700m tại cầu Friendship Bridge, cửa khẩu Zhangmu vào Tibet đến Tingri, cao độ 4.300m chỉ khoảng 250km nhưng xe chạy hết chừng 8 giờ đồng hồ. Không phải vì đường bê tông quá xấu mà vị hạn chế tốc độ toàn loanh quanh 40-50km/h.

Đoạn mới rời cửa khẩu thì núi non hùng vĩ, độ dốc rất lớn với vô vàn dòng suối lớn nhỏ tuôn nước ào ào. Người Trung Quốc tận dụng nguồn nước dồi dào này để dẫn nước sinh hoạt về các điểm đông người, và xây cả những đường ống áp lực để làm thuỷ điện.

Tiếp theo là những đoạn đường xuyên qua đồi núi khô cằn, chỉ phổ biến loại cây bụi. Thổ dân cũng tận dụng những mảnh đất ven lộ bằng phẳng để trồng trọt, chủ yếu là lúa mì.

Đến khách sạn ở Tingri vừa đúng nửa đêm. Nhiệt độ 7 độ, cũng dễ chịu. Chỉ ngại lất phất mưa thôi.

Một số thành viên đi cùng đã bị sốc độ cao, một chút đau đầu, một chút khó thở. Trong phòng khách sạn có dẫn cả nguồn oxy như bệnh viện. Tuỳ nghi sử dụng. Chặng đường kora núi Kailash 2026 phía trước còn dài. Hôm nay mới chỉ là ngày đầu tiên trên đất Tây Tạng.

TASHILHUNPO, SHIGATSE

Tu viện Tashilhunpo lịch sử ở Shigatse, Tibet, nổi bật với những tòa nhà truyền thống có tường trắng cùng khung cửa sổ màu đỏ và đen, nằm tựa lưng vào dãy núi Nyiseri phía sau.

Là một trong ‘Sáu đại tu viện’ của phái Gelugpa và là nơi cư trú truyền thống của các đời Ban-thiền Lạt-ma (Panchen Lama). Được xây dựng vào năm 1447 bởi Gendun Drup - người sau này được truy phong là Đạt-lai Lạt-ma đời thứ nhất. Nổi bật với sự tương phản giữa những bức tường trắng, mái nhà dát vàng và các dải trang trí tinh xảo dưới bầu trời xanh thẳm ở vùng cao nguyên.

Là trung tâm tôn giáo quan trọng của vùng Hậu Tạng (Rear Tibet), nơi có các đại điện, lăng mộ của các đời Ban-thiền Lạt-ma và bộ sưu tập đồ sộ các hiện vật Phật giáo.

Những con đường dốc lát đá tảng, những gian thờ tự hao hao nhau và một quần thể đủ chỗ cho cả ngàn người sinh hoạt và tu tập. Có lẽ mai về Lhasa sẽ tìm hiểu kỹ hơn.

SHIGATSE đi LHASA

Đường khá tốt, chủ yếu là bê tông và đường nhựa xây trên nền đá. Gặp núi xuyên hầm, gặp thung bắc cầu cạn. Tín hiệu giao thông rõ ràng, xe chạy tốc độ khá cao (đang trong một hầm khoảng 70-80km/h)

Cảnh sắc hai bên núi non hùng vĩ trơ trọi những đá là đá và lốm đốm vài cây bụi. À, phải là núi... già mới đúng. Hiếm khi thấy người dân hay nhà cửa của họ bám gần cao tốc.

Nhiều hầm tới mức chán chả buồn đếm luôn. Và hầm dài vài km là chuyện rất thường.

LHASA: DRAK YERPA

Khu di tích Drak Yerpa nằm cách Lhasa khoảng 30km (tương đương 40 phút lái xe) về phía Đông Bắc. Đây là một quần thể rộng lớn bao gồm các ngôi đền, tu viện và những hang động thiền định nằm ẩn mình trên sườn núi.

Tu viện này - cùng với nhiều hang động thiền định trong quần thể - đặc biệt thu hút những ai quan tâm đến thiền định cũng như du khách đang chuẩn bị cho hành trình leo núi hoặc đi bộ đường dài tại Tây Tạng. Độ cao ở đây lớn hơn một chút so với Lhasa (hơn 4.400m ở chân núi và 4.880m ở đỉnh). Chính nhờ độ cao lớnhơn này, việc thích nghi với độ cao tại Lhasa sẽ trở nên dễ dàng hơn sau khi bạn đã lên thăm Drak Yerpa.

Nếu bạn không tập gym thường xuyên thì đừng lo, vì người tập gym có nhu cầu oxy cao, trong điều kiện không khí loãng sẽ chóng hụt hơi hơn những người khác. Bảo sao mà các vị tiên ông đều mình hạc xương mai.

Tương truyền Vua Songtsen Gampo cùng hai vị hoàng hậu ngoại quốc của ngài đã từng thiền định tại điện Peu Marsergyi Lhakhang này. Trong hang động, họ đã phát hiện ra những biểu tượng tự hiển lộ tượng trưng cho Thân, Khẩu và Ý của Đức Phật. Về sau, ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) đã chôn giấu nhiều bảo vật ‘tema’ (kho tàng giáo pháp ẩn giấu) quanh vùng Yerpa, bao gồm cả thanh đoản kiếm nghi lễ nổi tiếng Sera Phurzhal.

Thanh đoản kiếm này sau đó đã được vị đạo sư chuyên tìm kiếm kho tàng tâm linh (terton) tên là Darcharuba tìm thấy lại tại Sewalung. Ngài Padmasambhava đã dành nhiều tháng nhập thất tại hang Dawa Puk; đây là một trong ba địa điểm chứng ngộ tâm linh (gọi là ‘drub-ne’) quan trọng nhất của ngài. Vào thế kỷ thứ chín, Lhalung Pelgyi Dorje đã lưu lại Drak Yerpa để thiền định ẩn tu, cả trước và sau khi ông ám sát vị vua bội giáo Langdarma.

Trong giai đoạn truyền bá Phật giáo về sau tại Tây Tạng, Yerpa càng trở nên nổi bật hơn dưới ảnh hưởng của phái Kadampa: Lu-me đã cho xây dựng 108 ngôi đền trên sườn núi, trong đó có điện Vairocana Lhakhang. Marton Chokyi Jungne đã sáng lập điện Jampa Lhakhang, còn ngài Atisha đã dành ba năm tại đây; với sự hỗ trợ của các đệ tử thân tín nhất, ngài đã cho xây dựng điện Kyormo Lhakhang và điện Chokhang.

Nói chung lên đây cũng thú vị, nhưng khá ngộp hơi vì không khí loãng trên độ cao tương đối, và vì mùi hương hơi quá mức bình thường. Khách hành hương cũng tương đối đông lúc chúng tôi kính lễ.

LHASA: POTALA PALACE

Khó có thể bỏ qua Cung điện Potala, một Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Công trình đồ sộ và uy nghi này tọa lạc ở độ cao khoảng 3.650M so với mực nước biển trên đồi Marpo-ri (hay còn gọi là Đồi Đỏ), nằm ngay trung tâm Lhasa. Sự hiện diện đầy ấn tượng của Potala phản ánh rõ nét tầm quan trọng to lớn về mặt lịch sử, văn hóa và tôn giáo đối với người dân Tây Tạng.

Cung điện không chỉ là nơi cư trú mùa đông của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà còn là nơi lưu giữ di hài của nhiều vị Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm. Đã có thời kỳ, Potala còn đóng vai trò là trụ sở của chính quyền Tây Tạng.

Cung điện Potala thực tế bao gồm hai khu vực chính. Bạch Cung (Cung điện Trắng) là nơi cư trú của Đức Đạt Lai Lạt Ma và cũng là nơi chính quyền từng làm việc. Hồng Cung (Cung điện Đỏ) là nơi đặt các bảo tháp (công trình hình vòm trong Phật giáo dùng để tưởng niệm các bậc thánh, địa điểm hoặc sự kiện thiêng liêng) lưu giữ di hài của các vị Đạt Lai Lạt Ma quá cố.

Khi bước vào bên trong, hơi bị choáng ngợp bởi kiến trúc cũng như các tác phẩm nghệ thuật Tây Tạng được trưng bày khắp khuôn viên (Potala sở hữu 698 bức tranh tường và gần 10.000 bức tranh cuộn).

Khó có đủ thời gian mà tham quan chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ.

Cung điện Potala

Một Di sản Thế giới được UNESCO công nhận.

TRÁI BỒ ĐỀ TÂM PHẬT

Lần đầu tiên, tại Lhasa, Tibet, mới biết đến trái Bồ Đề Tâm Phật Thích Ca Mâu Ni này.

Đi dạo tối gần khách sạn, thấy một số người bày bán thứ quả trông rất lạ với vài loại vỏ khác nhau và một số sản phẩm đã hoàn thiện bày trên khay. Nhìn như bằng nhựa, lắm màu sắc và một vài loại có tính xuyên sáng như thể làm bằng ngọc quý.

Cứ bán tín bán nghi, cuối cùng quyết định tụ lại mua một số sản phẩm và xem cách anh thợ thủ công chế tác nó. Cái hay là ở chỗ người bán hàng (kiêm nhà sản xuất) cũng không dám chắc về màu sắc có thể có của hạt bên trong.

Trên tờ quảng cáo cũng ghi: “Trái tự nhiên nguyên bản, mỗi trái một cơ hội, được đánh bóng thủ công, bọc vàng quý giá”.

Đầu tiên là chọn 1 quả ngẫu nhiên, người bán sẽ cưa bổ đôi quả đó ra, lấy cái hạt bên trong. Lúc này hạt có lớp ngoài giống... quả kiwi. Sau đó cậu ta dùng khoan khoan 1 lỗ từ đầu thuôn của hạt. Đổi cái khoan khác có mũi như vít gỗ, mục đích để khi dùng giấy ráp nước đánh bóng được dễ dàng. Sau khi đánh bóng xong, đóng 1 taker nhựa vào lỗ khoan, rồi gắn dây vô là xong thành phẩm.

Chốt hạ mấy anh em mua 8 cái để được giá tốt. Người bán, người mua đều vui. Lại được người xem quây kín mít cười vui đáo để. Giá bao nhiêu thì không nói, để cho hồi hộp và tò mò. Chỉ biết họ hay phát giá loanh quanh 70 tệ một cái. Nhớ mặc cả mạnh vào!

TU VIỆN SAKYA

Được thành lập vào năm 1073 bởi Khön Könchok Gyalpo, đây là trung tâm chính của phái Sakya thuộc Phật giáo Tây Tạng.

Công trình nổi bật với những bức tường dày tựa pháo đài, mang tông màu đỏ sẫm và xám đặc trưng, khiến nơi đây còn được ví như ‘Vạn Lý Trường Thành của Tây Tạng’.

Phần mái phía trên lối vào có hình bánh xe Pháp luân màu vàng đặt ở chính giữa, hai bên là hình đôi hươu vàng.

Các bảo tháp (stupa): Một hàng bảo tháp trắng truyền thống (chorten) nằm dọc theo sân lát đá phía bên ngoài chánh điện.

NGÀY 1

Xe bus chở đoàn khách hành hương hơn 100 người từ base camp đến chân núi Kailash bắt đầy ngày kora thứ nhất.

Thời tiết khá đẹp, hơi lạnh và gió nhẹ. Đêm trước mưa rả rích nhưng sáng ra thì tạnh. Đi được nửa chừng của ngày đầu tiên thì lất phất mưa, cảm thấy lạnh hơn. Nhất là khi để nước ngấm lâu trong thời tiết giá lạnh, không có tuyết.

Một vài người thuê ngựa để kora thay vì lội bộ, cũng do không đủ sức khoẻ thôi mà.

Cả xe hơi, xe cứu thướng và bò Yak vẫn thường vận chuyển đủ thứ theo đường kora.

Kết thúc ngày kora đầu tiên với đôi chân mỏi nhừ và húng hắng ho.

NGÀY 2

Tập kết quân số đầy đủ, ngủ đêm ở một chỗ chán chả buồn nhớ tên vì y như Dom, không có nhà vệ sinh trong khuôn viên chứ đừng nói là trong phòng. Được cái có sưởi điện nên cũng ấm áp chán. Nhà hai tầng có vẻ như lắp ghép nhanh để kinh doanh cho chóng thu hồi vốn. Có một nhà bếp với nồi nước nóng đại tướng đốt bằng than. Ai có đồ dùng bị ướt do mưa ngày thứ nhất thì mang xuống sấy một lúc là khô. Tốt hơn dùng máy sấy tóc nhiều.

Định xuất phát tinh mơ kora ngày 2 nhưng cảnh sát địa phương cảnh báo có tuyết buổi đêm nên khuyến nghị 6:00 hãy lên đường cho đảm bảo an toàn. Đoàn có một vài nhân vật bị mưa rét ngấm chiều qua phải quay lại khách sạn ở base camp không tham gia ngày 2.

Điều phản bác đầu tiên là chả có cái dốc dựng đứng nào như nhiều trang web và mạng xã hội mô tả cả. Chỉ là dốc hơn bình thường một chút, thậm chí không cần gậy hỗ trợ vẫn leo vô tư. Dốc được coi là dựng đứng thì có mà bò cả 4 chân tay ngõ hầu mới leo được

Thấy vài cái hoạ đồ bí hiểm chụp lúc xuất phát được một lúc ven đường (đã làm sáng lên để tiện... dòm, chứ ở đây tầm 7:30 mới hừng sáng, mùa này)

Khi ánh nắng bắt đầu phản chiếu trên núi thiêng Kailash thì cứ vài phút lại có cảm giác mới khá thú vị.

Đèo ‘Nghiệp lực’ (đèo Drolma La, cao độ 5.680m cũng khá là cao đấy!) nhưng dễ đi thôi. Tuy nhiên, do không khí loãng và thiếu oxy nên U70 lần đầu tiên thi thoảng phải cho mũi... bú bình. Qua nơi này xong coi là xong ngày kora thứ 2. Tuy xuống dốc đến chỗ base camp cho ngày thứ 3 cũng nhọc ra phết do cơ bản là hạ cao độ nhanh, đường lại lổn nhồn đá, khó đi.

Hôm nay thời tiết rất đẹp, khá lạnh và nắng. Đôi lúc có mưa tuyết lây phây nhưng hạt tuyết bé tí, và không đủ bám vào áo khoác.

Kết thúc ngày kora thứ hai quay về base camp ở Darchen để tính kế cho ngày thứ 3.

NGÀY 3

Vì mối lương duyên chưa tới, do địa phương thông báo tình hình ít thuận lợi hay gì đó nên đoạn kora chả mấy khó khăn và ngắn nhất không thực hiện được. Thay vào đó, đoàn hành hương tới thăm hai hồ Mặt Nhật và Mặt Nguyệt. Hồ La'angcuo (Lạp Áng Thố - La'angcuo, trong tiếng Tạng nghĩa là ‘hồ đen độc hại’) là hồ nước mặn hình hơi hơi giống lưỡi liềm nên còn được gọi là hồ Mặt Nguyệt nằm ở phía Tây Tây Tạng. Hồ này nằm ở phía Đông Bắc huyện Phổ Lan (Purang), địa khu Ngari (Ali), Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc trên độ cao khoảng 4.573m so với mực nước biển.

Nước ở La'angcuo chút chút mặn thôi (không như lời đồn) và không có sinh vật hay cỏ cây phát triển quanh bờ (thực ra chả cần nước mặn hay nước lợ, kể cả nước ngọt dồi dào từ tuyết trên núi cao tan chảy thì với sự khắc nghiệt của thời tiết và độ cằn của đất ở đây, cây cối cũng không phát triển được. Đa phần chỉ cây bụi lúp xúp, có loại thơm hăng hắc giống hương thảo).

La'angcuo nằm ngay cạnh hồ Mapang Yongcuo (Mã Phàm Ung Thố - Mapam Yumtso, trong tiếng Tạng cổ mang ý nghĩa là "hồ nước ngọc bích bất bại".) hay Manasarovar, chỉ cách nhau bởi một ngọn đồi nhỏ. Theo truyền thuyết, hai hồ này được nối với nhau bằng một đường ngầm dưới lòng đất.

Manasarovar, tên gốc trong tiếng Phạn (Sanskrit), có nghĩa là ‘hồ của tâm trí’ hay ‘hồ ý niệm’. Hồ cũng có tên là Yaochi (Dao Trì), gọi theo văn hóa Trung Hoa cổ (được nhắc đến trong các điển tích hoặc tài liệu như ký sự của Huyền Trang). Và về hình dáng đầy đặn nên thổ dân còn gọi là hồ Mặt Nhật.

Lạ là hồ Mặt Nhật sóng ào ạt vỗ bờ như bãi biển, còn hồ Mặt Nguyệt thì phẳng lặng như tấm gương, lặng yên không một gợn sóng lăn tăn

Manasarovar là một trong những thánh hồ nước ngọt linh thiêng và nổi tiếng nhất tại Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc. Nằm ở độ cao khoảng 4.590m so với mực nước biển. Diện tích rất lớn, chừng 410km2 với độ sâu trung bình là 46m, nơi sâu nhất đạt khoảng 90m.

Hồ Manasarovar được coi là chốn thiêng liêng đối với các tín đồ Phật giáo, Ấn Độ giáo, Bôn giáo và Kỳ Na giáo. Người ta tin rằng làn nước trong xanh ở đây có khả năng tẩy rửa sạch mọi tội lỗi và tà khí trong tâm hồn.

Thuỷ sản ở đây nhiều vô kể, ước chừng đến triệu tấn (khó tin nhỉ?!) vì nghe nói người dân không ăn cá ờ hồ. Dưng mà triệu tấn thì bỏn lấy đâu ra thức ăn mà tồn tại và sinh sôi nảy nở cơ chứ?!

Có một loài cá nho nhỏ tầm cá trích, thấy bảo là làm thuốc chữa xương khớp và vô sinh rất tốt được thổ dây bày bán dưới dạng phơi khô, xâu thành chuỗi. Giá cỡ 10 tệ 1 con hoặc có thể rẻ hơn chút đỉnh như mua 24 con giá 200 tệ. Đồn rằng thổ dân không đánh bắt, nhưng có một loài chim thích xơi đặc sản là mắt của loài cá này nên chúng thường bụp đôi mắt và kết liễu đời cá. Những con chết vì nguyên nhân này được thổ dân vớt về phơi khô và xâu chuỗi đem bán. Chả biết thực hư thế nào.

Tóm lại là kết thúc ngày thứ 3 kora kiểu like.no.other và để sớm tinh mơ ngày mai quay trở về Nepal chuẩn bị hành trang về nước. Bắt đầu nhớ nhà rồi!

TRỞ VỀ

Đoạn đường gần biên giới Tibet - Nepal qua cửa khẩu Zhangmu bị xói lở nhiều và đang tình trạng hạn chế qua lại đường biên giới nên xe cảnh sát dẫn đường để di chuyển thuận lợi hơn...

Qua cửa khẩu Zhangmu, về đến đất Nepal lại khó khăn hơn cả lượt đi hôm 30/8/26. Bởi một số vị trí, không những đường tiếp tục lở do suối khoét hàm ếch, mà còn có những đoạn mất hẳn đường, phải cắt rừng vượt qua.

Nghe tiếng suối reo nhiều quá não cả lòng. Bùn đất lấm lem lếch thếch như thuở nào, giống đội cửu vạn vượt biên vác hàng thuê.

Ơn bề trên, thời tiết đẹp nên cuối cùng đoàn cũng tiếp cận được khu vực xe chờ đón trở lại Kathmandu một cách an toàn.

Tạm coi là kết thúc một chuyến đi lịch sử đời người. Vất vả nhưng trọn vẹn. Gian nan và đầy những khoảnh khắc đáng nhớ.

Ngày xuất bản: tháng 10/2026
Bài và ảnh: Phạm Minh Trí
Trình bày: Ngọc Diệp